TÀI LIỆU

Người CSVN và một thế kỷ diệt chủng tộc Việt, một thế kỷ cực kỳ tàn bạo, cực kỳ khốn nạn đối với toàn thể dân tộc

Nguyễn Lương Tuyền (Danlambao)

Khoảng thập niên 20’s, Hồ Chí Minh và các đồng chí của y, theo lệnh quan thầy Cộng Sản Quốc Tế, nguyện làm những tên lính tiên phong quyết tâm nhuộm đỏ toàn nước Việt, nhuộm đỏ toàn vùng Đông Nam Á bằng bạo lực, bằng máu và nước mắt của dòng giống Lạc Hồng. Hiện nay bọn Cộng Sản đã hoàn toàn ”Cộng Sản hóa Việt Nam”. Trên thực tế, cho tới ngày nay, trong gần một 100 năm (từ 1920 tới 2017), Cộng Sản Việt Nam đã và đang tiến hành diệt chủng, tiêu diệt dân tộc Việt.
Câu chuyện dẫn nhập
Khoảng giữa tháng 4/2017, nhân dân Xã Đồng Tâm ở ngoại ô của Thành Phố Hà Nội đã nổi dậy phản đối nhà cầm quyền CS Hà Nội đã chiếm giữ một cách bất hợp pháp, không lý do đất đai của Xã. Dân chúng đã bắt giữ làm “con tin” 38 Viên chức, Cảnh Sát Cơ Động của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.
Sáng ngày 22/4, Nguyễn Đức Chung, Chủ Tịch UBNDTP Hà Nội “đối thoại (!)” với người dân. Ông Nguyễn Đức Chung đã có bản cam kết viết tay gồm 3 điểm: trong đó điểm 2: không truy tố trách nhiệm hình sự đối với người dân Xã Đồng Tâm.
Tưởng như mọi sự đã tạm yên sau khi các Viên chức của chính quyền, Cảnh Sát Cơ Động được đồng bào trả tự do.
Lúc đầu, Ông Chung muốn người đại diện Xã Đồng Tâm lên gặp ông nhưng người dân Đồng Tâm đã từ chối, đòi hỏi Ông Chung phải đến Xã Đồng Tâm gặp nhân dân. Ông Chung phải ép lòng đến Xã. Ông đến Xã Đồng Tâm với một phái đoàn hùng hậu gồm: 3 Đại Biểu Quốc Hội (Đỗ Văn Trung, Lưu Bình Nhưỡng và Dương Trung Quốc) và 1 Tướng Công An từ Hà Nội. Ông Chung và 3 Đại Diện Quốc Hội cùng 1 Luật Sư cùng ký vào Bản Cam Kết.
Ngày 13/6/201, trái với cam kết do Ông Chung và 3 Đại Diện Quốc Hội ký, Công An Hà Nội đã quyết định truy tố hình sự người dân Xã Đồng Tâm. Đồng thời Đoàn Thanh Tra đến từ Hà Nội, sau khi nghiên cứu (?) đã kết luận đất Thị xã Đồng Tâm là đất Quốc Phòng. Người dân Đồng Tâm đã cư ngụ bất hợp pháp (?) trên đất của Bộ Quốc Phòng. Lật lọng, dối trá, lưu manh là “nghề” của CS từ xưa tới nay. Lời nói của Cựu TT Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã trở nên 1 chân lý: “Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm”. Đó là một thí dụ điển hình về bản chất dối trá, lật lọng, bịp bợm, lưu manh lường gạt… của người Cộng Sản Việt Nam. Thế nhưng, họ luôn luôn đề cao cái mà họ gọi là “Đạo Đức Cách Mạng của Người Cộng Sản”. Đạo đức kiểu gí đây? Hỡi các đồng chí! !, người ta tự hỏi.
Nhìn lại vài khuôn mặt trong đám cầm đầu của Cộng Sản Việt Nam.
Những tên “đầu sỏ” trong đám cầm đầu Đảng CS Đông Dương và sau này là Đảng CS Việt Nam, phần lớn là những tên thất học hoặc ít học, những tên du thủ du thực, ba que xỏ lá, đá cá lăn dưa. Những tên này đang ngự trị trên quê hương VN… với toàn quyền ăn cắp, giết người.
Hồ Chí Minh: Hồ học chưa hết bậc Tiểu học. Năm 1911 Hố xuống tầu của Pháp làm phụ bếp sau khi bị Trường Hậu Bổ ở Huế (trường đào tạo học viên để ra làm quan) từ chối đơn xin nhập học của y (các đồng chí bịa ra là: Bác ra đi tìm đường cứu nước(!).
Tàu La Touche -Tréville của Pháp nơi Hồ làm phụ bếp (Hình Internet) 
Có lẽ Hồ học tiếng Pháp kiểu truyền khẩu qua các nhân viên nhà bếp trên tàu (thường là dân giang hồ tứ chiếng, đến từ khắp mọi nơi) nên khả năng tiếng Pháp của Hồ là tiếng “Tây bồi” của những người ít học, tuy là tiếng “bồi” nhưng cũng rất yếu kém- Bằng chứng là khi Hồ trả lời phỏng vấn của 1 Nữ ký giả Pháp, được phổ biến trên Youtube, tiếng Pháp rất “bồi” của Hồ lộ hẳn ra. Khi ở Pháp, Hồ được quí ông Phan Chu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Phan văn Trường, Ta Thu Thâu, Nguyễn An Ninh… thuộc nhóm LA LUTTE cho tá túc. Không hiểu vì lý do gì Hồ – với khả năng tiếng Pháp bậc Tiểu Học- lại được đại diện nhóm để đọc bài tham luận do nhóm này soạn thảo bằng tiếng Pháp: Le procès de la colonisation francaise, tại 1 Hội Nghị quốc Tế CS ở Thành phố Tour, Pháp. Nhóm La Lutte khi viết tham luận thường lấy tên chung là Nguyễn, Le Patriote (Nguyễn Ái Quốc). Hồ bèn lanh lẹ “thuổng” ngay cái tên đó cho thành tên của y là Nguyễn Ái Quốc cho tiện bề lường gạt mọi người. Các “đồng chí CS”, cho tới bây giờ, vẫn suýt xoa ca tụng tài hùng biện, nói tiếng Pháp của Bác. Bức hình Hội Nghị có hình của Hồ, được các đồng chí trân quí còn hơn 1 bảo vật quốc gia.
Hồ Chí Minh là tên đại bịp, đại gian ác, khát máu, dâm đãng đến độ trụy lạc tình dục (perversion sexuelle) và rất hiếu sắc nhất là đối với các bé gái thuộc dân tộc thiểu số (hãy nhìn cách Hồ ôm, hôn môi nút lưỡi các cháu gái). Năm 1958, Hồ sang Nam Dương (một nước Hồi Giáo) dự Hội Nghị Bandung, Y lại giở trò hôn môi các cô bé người bản xứ khiến báo chí Nam Dương phải kêu lên: President Hồ, stop kissing those little girls!. Nếu Hồ sống ở các nước Tây Âu, Hồ sẽ bị kết tội ấu dâm (pedophilia). Hồ có tên trong danh sách các tên đồ tể, diệt chủng trên thế giới của thế kỷ thứ 20…
Tờ Ba Lan Thời Báo (Polaska Times), trong số xuất bản ngày 15/3/2013, đã kể tên 13 nhà độc tài khát máu nhứt (Blood thirsty dictators) của thế kỷ thứ 20. Trong nhóm “select” đó, có Hồ Chí Minh của VNCS. Hồ được xếp ngang hàng với các tên đồ tể khác như Mao Trạch Đông, Hitler, Staline…
Hồ Chí Minh of Việt Nam: cool blood mass murder of his countrymen
Trong đám đệ tử theo Hồ, chỉ có Võ Nguyên Giáp tốt nghiệp Trường Luật, nhưng chỉ đi dậy Sử bậc trung học tại Trường Tư thục Thăng Long của Đặng Thái Mai ở Hà Nội. Đặng là Cha của Collette Đặng Thị Hà, người vợ thứ hai của Giáp. Võ Nguyên Giáp là người độc nhứt được phong Đại Tướng dù chưa bao giờ theo học và tốt nghiệp tại một Trường Quân Sự nào (Xin đọc bài: VNG, thiên tài khốn nạn của quê hương). Chế độ CS giỏi về tuyên truyền loè bịp nên đã đánh bóng, đưa VNG lên “ngôi” Đại Tướng. Người ta nói rằng tuyên truyền của CSVN có thể biến một tên vô học về quân sự, thậm chí biến một con chó thành Đại Tướng. Mọi người vẫn tin và theo). VNG là một tên hèn, quá hèn. Khi Y bị đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ đầy ra làm về kiểm soát sinh đẻ, Y ngoan ngoãn vâng lời. Y im lặng khi các đàn em bị nhóm Duẩn, Thọ cho vào tù. Theo Bùi Tín: sở dĩ Giáp được nhóm trên để yên vì Giáp “biết thủ”. Người dân nhìn vào Giáp-người hùng Điện Biên Phủ (?)-như sau:
Ngày xưa Đại Tướng cầm quân
Ngày nay Đại Tướng cầm quần chị em.
Ngày xưa Đại Tướng công đồn
Ngày nay Đại Tướng công l… chị em
Tuy bị Lê Duẩn ”hạ xuống đất đen”, VNG là người ham danh nên lúc nào cũng ”diện ” bộ quân phục Đại Tướng đầy lon lá, kể cả khi y đến gập các phụ nữ để nói chuyện về hạn chế sinh đẻ, thậm chí cả khi nằm nhà thương trong những năm tháng cuối đời.
Những tên khác như Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Tôn Đức Thắng, Tố Hữu Nguyễn Văn Lành… đều không học quá Bậc Tiểu Học. Tố Hữu nổi tiếng là “Thi sĩ Cung Đình của chế độ” với những câu thơ đằng đằng sát khí, đầy tính chất sát nhân khát máu:
Giết, giết nữa bàn tay không nghỉ
Cho ruộng vườn, hương lúa được bền lâu
Thờ Hồ chủ tịch, thờ Staline bất diệt.
Lê Đức Anh – sau lên làm Đại Tướng rồi Chủ Tịch nước – xuất thân là phu cạo mủ cao su thất học, làm việc tại 1 đồn điền cao su ở Miền Nam. Cũng như Văn Tiến Dũng có gốc gác là 1 anh thợ dệt vô học ở Hà Đông. Sau Dũng lên tới chức Đại Tướng, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng của CSVN. Phùng Thế Tài, Trần Quốc Hoàn là 2 tên du thủ du thực, vô học. Tài làm hộ vệ cho Hồ. Sau năm 1954, Tài lên tới chức Thượng Tướng, Chỉ Huy Trưởng Không Quân của Miền Bắc. Trần Quốc Hoàn làm Bộ Trưởng Bộ Công An đầu tiên của CSVN từ năm 1952 cho tới khi chết năm 1986, Đó là một Bộ Trưởng Công An nổi tiếng là tàn độc cho tới ngày về hưu. Y là cánh tay mặt của Lê Đức Thọ trong vụ án nổi tiếng “Âm mưu chống Đảng”, vụ án làm các thành phần khác nhau trong Đảng run lên vì sợ. Nhiều người nổi tiếng, nhiều người cầm bút v.v… đã bị Thọ và Hoàn cho nếm cảnh đầy đọa, tù tội như TS Nguyễn Mạnh Tường, Triết gia Trần Đức Thảo….
 
CSVN: là hiện thân của dối trá, bịp bợm, lường gạt trong gần một thế kỷ cho tới tận bây giờ
Với thành phần “đào kép” lãnh đạo vô học, vô giao dục… như vậy, người ta không mấy ngạc nhiên về bản chất lưu manh, dối trá của CSVN- lưu manh và dối trá cho tới giờ phút này.
Danh từ VẸM (tức Việt Minh) dùng để gọi tắt những người CSVN ngay từ thời chiến tranh chống Pháp. “Nói dối như VẸM” là câu ví von của đồng bào tả rõ bản chất dối trá của người CSVN. Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông, theo lệnh của CS Quốc Tế, đã vào VN từ thập niên 20’s trong tiến trình bành trướng của chủ nghĩa Mác Xít- Lênin nhưng mãi đến năm 1930, Đảng CSVN mới chánh thức xuất hiện trên vũ đài chánh trị ở VN.
Ngày 6/1/1930, Nguyễn Ái Quốc (tức Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh…) cùng các đồng chí đã triệu tập một Hội Nghị của các người CSVN tại Hương Cảng. Hội nghị kéo dài cho tới ngày 8/2/1930. Hội Nghị quyết định lập một Đảng CS duy nhứt lấy tên là Đảng CSVN. Sau đó đến tháng 10 cùng năm, Đảng trở thành Đảng CS Đông Dương do Trần Phú làm Tổng Bí Thư.
Phong Trào nổi dậy 1930-1931 được Đảng CS lãnh đạo, trong đó có Phong Trào Sô Viết Nghệ Tĩnh, nhưng bị Pháp đàn áp dữ dội. Từ năm 1931 cho tới năm 1945, tùy thuộc các cuộc kháng chiến tại các địa phương, các nhóm gốc CS tại địa phương đều mang những tên khác nhau. Tháng 11 năm 1945, Đảng CS Đông Dương của Hồ tuyên bố tự giải tán, để làm bớt sự nghi kỵ của dân chúng về bản chất CS của Đảng. Thay vào đó, Đảng CS biến thành Hội Nghiên Cứu Mac Xít do Trường Chinh làm Chủ Tịch. Trên thực tế, Đảng CS vẫn hoạt động bí mật, giữ vai trò lãnh đạo chính quyền và điều hành việc “Cộng Sản hóa” dân Việt, núp sau chiêu bài kháng chiến chống Pháp, dành độc lập cho quê hương.
Năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ 2 chấm dứt với phần thắng trận về phía Đồng Minh. Tại VN, một Chính Phủ Liên Hiệp được thành lập. Đất nước bấy giờ mang tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hồ Chí Minh, lãnh tụ của Việt Minh (tên viết tắt của Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội: một liên hiệp các đảng phái khác nhau ở VN lúc bấy giờ) được làm Thủ Tướng của Chính Phủ, Nguyễn Tường Tam (Đại Việt), tức Nhà Văn Nhất Linh, làm Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao.
Hội Nghị Fontainebleau giữa Pháp và VN được diễn ra vào tháng 7 năm 1946. Phạm Văn Đồng là Trưởng Phái Đoàn VN. Hội Nghị, sau hơn 2 tháng họp, đã không đi đến một kết luận nào. Lúc đó, Hồ đang ở Pháp nên y bèn “đi cửa sau” khẩn khoản xin ký một Tạm Ước (Modus Vivendi) – một Tạm Ước phản quốc – vào ngày 11/9/1946 với Bộ Trưởng Pháp Maurius Moutet. Tạm Ước này là khởi đầu đưa đến chiến tranh Việt-Pháp vài tháng sau đó vì Tạm Ước cho phép Quân Đội Pháp trở lại VN. Đó là việc bội phản của Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đối với quê hương. Đó là khởi nguồn của cuộc Chiến tranh Đông Dương kéo dài từ năm 1946 cho đến năm 1954, cũng là năm đất nước bị chia đôi ở Vỹ Tuyến 17 theo Hiệp Định đình chiến Genève được ký ngày 20/7/1954.
Trong cuộc chiến này, Hồ và Đảng CSVN đã lợi dụng tối đa chiêu bài “đánh đuổi quân Pháp, dành độc lập” để độc quyền điều hành cuộc chiến chống Pháp ngõ hầu áp đặt bằng bạo lực chủ nghĩa Cộng Sản lên quê hương VN. Hồ và đồng bọn ra sức săn đuổi, tiêu diệt những người Việt Quốc gia, không cùng chính kiến với chủ nghĩa CS. Nhiều người nổi tiếng đã bị CS thủ tiêu như Nhà văn Khái Hưng, Tạ Thu Thâu (khi Hồ còn sống với nhóm La Lutte, Y đã được ông Tạ Thu Thâu dạy kèm tiếng Pháp), Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ (Đạo Hòa Hảo), Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi v.v…. Hồ và bọn CSVN còn mượn tay quân Pháp để loại trừ các Đảng phái khác chính kiến trong suốt thời kỳ đánh nhau với quân Pháp. Trường hợp các “Tự Vệ Thành” của Hà Nội là một thí dụ điển hình về âm mưu thâm độc của Hồ và các đồng chí của y: mượn tay quân Pháp để loại trừ các thanh niên tiểu tư sản, một thành phần không có chỗ đứng trong thế giới Cộng Sản. Trận mở màn cho cuộc Chiến Tranh Đông Dương 1 nổ ra ngày 19/12/1946 giữa Tự Vệ Thành và quân Pháp. Hồ và các đồng chí đã rút ra An Toan Khu (ATK) trước khi cuộc chiến nổ ra. Vệ Quốc Đoàn – lực lượng gọi là tinh nhuệ của CSVN, đã không thấy xuất hiện để “làm cỏ” quân Pháp, chiến đấu bên cạnh các Tự Vệ Thành như Hồ và Võ Nguyên Giáp đã hứa. Tuy vậy, các thanh niên Tiểu Tư Sản của Hà Nội – thành phần nòng cốt của Tự Vệ Thành – đã đánh vùi với quân Pháp trong 2 tháng, cho tới ngày 18/2/1946 thì Tự Vệ Thành rút ra khỏi Hà Nội sau khi đã đưa được dân chúng rời Hà Nội tới nơi an toàn. Tự Vệ Thành tức Trung Đoàn Thủ Đô được đổi tên là Trung Đoàn Tây Tiến để tiếp tục cuộc chiến chống Quân Pháp,
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh mầu lá dữ oai hùm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
 
(Trung đoàn Tây Tiến, thơ Quang Dũng) 
Trong hơn 8 năm của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, toàn thể dân lành bị CS và Ông Hồ khủng bố “trắng”, các viên chức xã, ấp được tấn phong trước khi làng mạc bị CS kiểm soát, đều bị CS thủ tiêu bằng nhiều cách man rợ nhất. Toàn dân sống nơm nớp trong sợ hãi các “thần chết” Cộng Sản Việt Nam. Cả nước bao trùm một không khí chết chóc, thê lương. Mặt khác, Văn hóa muôn đời của dân Việt bị CSVN tiêu diệt để thay vào đó một nền văn hóa Mác Xít “con tố cha, vợ tố chồng”, mọi người nghi kỵ lẫn nhau, chống đối lẫn nhau và nhất là nói dối, lường gạt lẫn nhau để sống còn…. Các giá trị căn bản của con người bị đảo lộn “up side down” vì chủ nghĩa vô nhân CS do Hồ và Đảng CSVN du nhập bằng bạo lực vào quê hương Việt Nam. Tại những vùng do CS kiểm soát, Ông Hồ và người CSVN đã cho thi hành ngay các chiến dịch giết người như: cải cách ruộng đất, trí phú địa hào: đào tận gốc trốc tận rễ, rèn cán chỉnh quân, phong trào tam phản trong quân đội… Trong suốt thời gian đối đầu với quân Pháp, Hồ và những người CSVN đã dấu kỹ xuất xứ CS của họ. Đảng CS được mang tên là Đảng Lao Động. Cát tên Đảng CSVN chỉ xuất hiện vài năm sau khi Hô và các đệ tử của y đã chiếm được một nửa quê hương, từ vỹ tuyến 17 đến biên giới với Trung Hoa.
Trong suốt cuộc chiến đối đầu với quân Pháp, CSVN đã lợi dụng để biến người dân thành những người vô sản thực sự bằng các chiến dịch như “Tuần lễ vàng” chiến dịch “Tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống” tiêu hủy hết tài sản của người dân. CSVN lấy cớ không cho quân Pháp chiếm những tài sản này nên họ phải đốt hết, phá hết trước khi quân Pháp xuất hiện. Trên thực tế CSVN đã biến những người dân thành vô sản trong một thời gian ngắn vì chủ trương tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống này.
CSVN: một thế kỷ diệt chủng, tàn phá quê hương về mọi mặt.
Tuân lệnh CS Quốc Tế để “Cộng Sản hóa VN, Cộng Sản hóa cả vùng Đông Nam Á”, CSVN đã trở thành các tên lính xung kích. Chả thế mà trong cuộc chiến xâm lăng Miền Nam, Lê Duẩn đã tuyên bố: “Ta đánh là đánh cho Nga, cho Tầu”. Điều đó bộc lộ rõ tính chất đánh thuê cho CS Quốc Tế của CSVN. Người ta thường có khuynh hướng gọi cuộc chiến 1946-1954 là Chiến Tranh Đông Dương thứ 1, trong khi cuộc chiến xâm lăng Miền Nam 1960-1975 là cuộc chiến tranh Đông Dương thứ 2. Theo chúng tôi, không có Chiến Tranh Đông Dương 1 và 2, mà chỉ có trận chiến duy nhứt: đó là trận chiến xâm lăng của Cộng Sản từ năm 1946, kéo dài cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì tiếng súng tạm im trên cả nước. Đó là một cuộc xâm lăng liên tục trong ngần ấy năm với vài thời kỳ tạm yên kéo dài vài năm thôi. Bằng chứng la ngay sau khi ký Hiệp Định Đình Chiến Genève ngày 20/7/1954, Hồ và đồng bọn đã sửa soạn ngay để “chiếu cố Miền Nam”. Hiệp Định Paris 1973 chỉ là những ngày “nghỉ” cho bọn xâm lược vì chúng vẫn tiếp tục cuộc chiến tàn bạo không thua gì trước khi có Hiệp Định.
Trong suốt cuộc xâm lăng Miền Nam, người CS đã hành xử như những con thú hoang dã. Bản chất thú vật dã man của họ đã lộ rõ tại bất kỳ nơi nào họ chiếm đóng. Cuộc thảm sát đồng bào Huế trong Tết Mậu Thân là dấu ấn của người CSVN. Trong gần 1 tháng chiếm đóng Huế, họ đã tàn sát hàng 5,6 ngàn người dân vô tội bằng đủ mội phương cách dã man, tàn độc, thú vật nhứt. CSVN, cho tới bây giờ, vẫn chối không xác nhận hành động diệt chủng của họ đối với nhân dân của Thành Phố Huế, một vết nhơ trong lịch sử của quê hương. Vết nhơ mà ngàn đời không thể nào rửa sạch.
Sau ngày 30/4/1975, CSVN đã “ăn cướp” của nhân dân Miền Nam tất cả tài sản. Riêng về vàng, CSVN đã lấy cướp của Ngân Hàng Quốc Gia của Miền Nam 16 tấn vàng để chia chác cho nhau. CS tịch thu của nhân dân Miền Nam tổng cộng 43 tấn vàng. Số vàng này, CS nói họ mang qua trả nợ Nga Sô (?) . Trả nợ hay bỏ túi? Dieu seul le sait. “Dieu” ở đây chính là lũ cầm đầu của CSVN. Cho tới giờ phút này, cuộc chiến chống Cộng của Quân Dân Miền Nam vẫn được tiếp tục. Mặt trận này trải dài trên bất cứ nơi nào trên thế giới có sự hiện diện của người Việt tỵ nạn Cộng Sản. Đó là một cuộc chiến chống Cộng với tất cả mọi phương tiện ngoại trừ tiếng súng.
CSVN, trong cuộc chiến này, đang ở thế bị động, chỉ chống đỡ. Khác với các cuộc chiến trước 1975, các cuộc chiến mà Người Việt Quốc gia bị bắt buộc ở tư thế phòng thủ, không được “phép” tấn công quân thù.
Trong gần 1 thế kỷ, người CSVN đã mang lại chết chóc, tàn phá quê hương và sau cùng tới giờ phút này quê hương đang mất dần về tay kẻ thù ở phương Bắc, khốn nạn thay với sự đồng lõa dâng hiến của người Cộng Sản Việt Nam.
CSVN đã tàn phá quê hương trong suốt tiến trình nhuộm đỏ cả nước VN bằng các cuộc chiến vô bổ kéo dài triền miên. Hơn 4 triệu người đã bỏ mình vì cái ảo tưởng CS của Hồ và đồng bọn. Theo các quan sát quốc tế, có khoảng trên dưới 4 triệu người đã bị chết vì cái “communist madness” của một nhóm điên loạn: người CSVN.
Phải hàng ngàn trang giấy mới kể ra hết tội ác của CSVN đối với dân tộc. Chúng tôi chỉ đơn cử vài trường hợp trong cuộc xâm lăng của CS kéo dài từ những năm 20’s cho đến nay, tuy rằng tiếng súng đã tạm ngưng ngày 30/4/1975. Cuộc hành hạ, tiêu diệt dòng giống Việt vẫn được những người Bolchevick gốc Việt tiếp tục cho đến ngày nay.
Trong cuộc “trường kỳ tiêu diệt dân Việt” do Ông Hồ và Đảng CSVN chủ trương trong hơn 50 năm, bao gồm cả 2 cuộc chiến 1946-1954, 1959-1975, trong suốt thời gian từ 30 tháng 4 năm 1975 tới tận bây giờ, CSVN đã phạm muôn vàn tội ác đối với dân tộc. Diệt chủng là tội gì?
Diệt chủng là sự tiêu diệt có chủ ý, có hệ thống:
– Một dân tộc (thí dụ Đức Quốc Xã muốn tiêu diệt toàn thể dân Do Thái), một nhóm thiểu số, những người theo cùng một tôn giáo, cùng niềm tin về một triết lý sống (thí dụ Pháp Luân Công ở Trung Hoa)
– Những người theo các hệ thống chính trị tương phản (thí dụ: Tư Bản versus Cộng Sản)
– Thủ tiêu những dân không cùng một sắc tộc (groupe ethnique) thí dụ như trường hợp ở Rwanda, Phi Châu gần đây.
Hồ Chí Minh và những người CS Việt Nam đã du nhập chế đô CS – một chủ nghĩa ngoại lai – vào quê hương bằng võ lực, bằng cái mà CSVN gọi là “bạo lực cách mạng”, bằng giết chóc (deliberated killing). Điều này rất phù hợp với định nghĩa về diệt chủng kể ở trên.
Chỉ xin đơn cử vài trường hợp, biến cố lịch sử mang tính cách diệt chủng của người Cộng Sản Việt Nam:
Từ 1954 tới năm 1975 tại Miền Bắc VN.
Sau hơn 8 măm chiến tranh đối đầu với quân Pháp, Mặt trận Việt Minh do CSVN độc quyền lãnh đạo đã gây ra rất nhiều tàn phá, chết chóc cho người dân Miền Bắc qua các chiến thuật “tiêu thổ kháng chiến” các chiến trận “biển người” do các Cố Vấn Trung Cộng điều khiển. Thí dụ trong trận Vĩnh Phúc Yên hồi tháng 12 năm 1950, Quân Đội CSVN điều động gần 30 000 quân do chính Võ Nguyên Giáp chỉ huy, nhằm đánh vào Miền Trung Du, Bắc Việt. Quân Đội Việt Minh đã thảm bại với trên dưới 2 Sư Đoàn bị loại khỏi vòng chiến trong đó gồm hơn 6000 binh sĩ bị chết, gần 20 000 bị thương trong các trận đánh gọi là “biển người” vì bom Napalm của Pháp. Nếu chỉ đề cập đến các trận đánh như trận Vĩnh Phúc Yên, CSVN đã đưa hàng vạn, vạn thanh niên và thường dân vào chỗ chết.
Tháng 7 năm 1954, Hồ Chí Minh và những người CSVN từ chiến khu Việt Bắc về tiếp thu Hà Nội cũng như tiếp thu một nửa nước Việt từ Vỹ tuyến 17 tới tận Ải Nam Quan theo đúng các qui định của Hiệp Định Genève ký ngày 20/7/1954. Trên thực tế, Ông Hồ và những người CSVN đã có những hành động thủ tiêu dân Việt vài năm trước khi Hiệp Định đình chiến được ký tại Genève ngày 20/7/1954. Các cuộc thủ tiêu được diễn ra ở các vùng do CSVN hoàn toàn chiếm giữ, tại các vùng, gọi là vùng “xôi đậu”.
– Ám sát, thủ tiêu một cách man rợ không bút nào tả xiết các thành viên, đảng viên của các đảng phái quốc gia không cộng sản. Thủ tiêu các viên chức xã ấp một cách tàn bạo để reo rắc sự sợ hãi trong dân chúng là sở trường của CSVN. Câu “thà giết lầm còn hơn tha lầm” được CSVN tận dụng tới mức tối đa.
Ngoài ra các Tôn Giáo như Cao Đài, Hòa Hảo…, cũng bị khủng bố giết hại. Tóm lại CSVN đã reo rắc sự sợ hãi trong khắp các tầng lới dân chúng của xã hội Việt Nam. Người dân lúc nào cũng nơm nớp sợ hãi các “đồng chí”, đêm cũng như ngày
Xin đơn kể vài trường hợp CSVN đã có hành động “diệt chủng” tại các vùng mà họ kiểm soát được họ gọi là “vùng giải phóng”, vài năm trước khi Hiệp Định Genève ra đời: Đó là các cuộc thảm sát đẫm máu rất nhiều người vô tội nếu không nói là tất cả nạn nhân là những người vô tội:
– Cuộc cải tạo công, thương nghiệp
– Các chiến dịch ”rèn cán chỉnh quân”
– Phong trào tam phản nhằm ”loại bỏ” ra khỏi hàng ngũ Quân Đội Nhân Dân các phần tử được CSVN gọi là ”tiểu tư sản”, các trí thức bị CSVN dán cho nhãn hiệu: ”trí thức phản động (?)”.
– Cải cách ruộng đất
Cải cách ruộng đất
Đó là một chiến tích đẫm máu nhất của Ông Hồ và Đảng CSVN đối với người dân ở đất Bắc. Chiến dịch kéo dài cho tới năm 1956-1957, sau khi đã giết chết hàng trăm ngàn người vô tội. CSVN lùi bước, chiến dịch phải ngưng rồi bãi bỏ vì những lời ta thán của toàn dân. Ông Hồ phải đưa người hùng (?) Điện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp đứng ra xin lỗi nhân dân. Còn ông Hồ thì nhỏ vài giọt nước mắt “cá sấu”.
Rập theo “khuôn vàng thước ngọc” của Đảng CS anh em Trung Quốc, năm 1953, Hồ Chí Minh và Đảng CSVN phát động cuộc CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (CCRĐ) trên toàn cõi VN nhứt là tại các vùng “giải phóng” trước khi Hiệp Định Genève được ký ngày 20/7/1954. Theo Sắc Luật 42 SL ký và ban hành ngày 1/7/1951, Ông Hồ và Đảng CSVN cho chỉ tiêu 5% là số địa chủ tại mỗi địa phương cần phải tiêu diệt bởi Ủy Ban Cải Cách mà sức mạnh hành động là các Đội Cải Cách.
Đội Cải Cách và những người dân học tập với Đội này (thường là những dân bần cố nông) đứng ra đấu tố, hài tội (hoàn toàn được bịa đặt ra) các địa chủ. Bản án đã được đội cải cách định trước khi xử. Nhiều người đã bị giết theo đúng tiêu lệnh của Hồ Chí Minh: Trí Phú Địa Hào, đào tận gốc trốc tận rễ.
Trước các phản ứng chống đối của người dân, CCRĐ bị tạm ngưng rồi ngưng hẳn. Một số viên chức như Trường Chinh, Lê Văn Lương, Hồ Viết Thắng… bị cách chức (?). Ai cũng biết đó là những con vật tế thần, những “Lê Lai cứu Chúa” Hồ Chí Minh.
Người ta đưa ra con số 172 000 người bị đưa ra “đấu trường”, nhưng con số thực sự cao hơn con số 172 000 đưa ra. Ta chỉ cần làm 1 con Toán nhỏ thì sẽ thấy ngay: năm 1954, dân số Miền Bắc là 20 triệu người. 5% – chỉ tiêu của Đội Cải Cách- là 1 triệu người, cao hơn con số 172 000 do CSVN đưa ra gấp bội. Theo CSVN trong số 172 000 bị đưa ra đấu trường có 165 000 bị oan (sic). Quả thật CSVN đã thi hành đúng chỉ thị: thà giết lầm còn hơn tha lầm.
Hồ Chí Minh đã nhỏ vài giọt nước mắt cá sấu, tuyên bố: sai thì sửa sai. Theo đúng tinh thần của người Bolchevik
Để xoa dịu sự phẫn nộ của dân chúng, CSVN cho thả 12 000 tù nhân bị bắt giam trong chiến dịch CCRĐ.
Theo kết quả do Viện Thống Kê Hà Nội cung cấp, có 172 000 bị chết nhưng theo Nhà Báo CS Bùi Tín, con số người bị chết trong CCRĐ có thể lên đến trên dưới 1/2 triệu người.
Tội ác diệt chủng trong vụ nổi dậy ở Quỳnh Lưu
Việc CSVN tạm lùi bước trong vụ CCRĐ đã như một chất xúc tác cho vụ nổi dậy ở Quỳnh Lưu (Nghệ An). Cuộc nổi dậy được khởi đầu vào tháng 11 năm 1956. Đây là cuộc đấu tranh mang tính cách một cuộc nổi dậy đẫm máu chống lại sự cai trị dã man, tàn ác của CSVN. Sự man rợ, tàn bạo của cuộc CCRĐ đã là nguyên nhân chánh làm bùng nổ sự phẫn nộ của quần chúng ở Quỳnh Lưu, Nghê An. Ngày 10 tháng 11 năm 1956, khoảng trên 10 000 người dân Quỳnh Lưu đã họp Đại Hội. CSVN đưa đến khoảng 1 Đại Đội Công An để đàn áp. Đồng bào đã vây chặt Đ Đ Công An. CS bèn đưa đến nguyên 2 Trung Đoàn Bộ Đội để đàn áp. Lập tức 2 Trung Đoàn này bị khoảng 30 000 người dân vây chặt. Tướng CS Văn Tiến Dũng được lệnh đem cả Sư Đoàn Bộ Đội 304 nhập trận đàn áp. Ngày 14/11 Văn Tiến Dũng điều động thêm SĐ 312 để tăng cường đàn áp. Có hàng ngàn người dân bị giết chết (CSVN không bao giờ tiết lộ con số tử vong này). Hơn 6000 người bị bắt. Cuộc nổi dậy ở Quỳnh Lưu bị CSVN dập tắt gần như trong trứng nước.
*
Các vụ thảm sát diệt chủng đối với dân chúng Miền Nam của CSVN trong cuộc xâm lăng Miền Nam từ năm 1959 tới năm 1975. 
Chiến tranh ở VN từ năm 1946 đến năm 1954 chấm dứt với Hội Nghị Genève được ký ngày 20/7/1954 tại Genève Thụy Sĩ. Quân, dân Người Việt Quốc Gia không Cộng Sản, với sự trợ giúp của các quốc gia thuộc thế giới tự do, dắt díu nhau về cố thủ tại phần đất quê hương kéo dái từ phía Nam vĩ tuyến 17 đến tận Mũi Cà Mâu. Gần 1 triệu người Miền Bắc cũng quyết “di cư vào Nam”, từ chối sống với bọn Cộng Sản.
Sau ngày 30/4/1975 chính CSVN đã tiết lộ, theo đó: “Ngay từ lúc các chữ ký trên các văn kiện của Hội Nghị Genève còn chưa ráo mực, Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã bàn thảo kế hoạch xâm chiếm miền Nam. Khẩu hiệu: “củng cố miền Bắc, chiếu cố Miền Nam “được CSVN học làm lòng”.
Một số lớn cán binh CS đã không tập kết để ra ngoài Bắc Việt Nam theo đúng tinh thần của Hiệp Định Genève. Các “lãnh đạo” của CS đã trốn không ra Bắc, ở lại Miền Nam như Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, Mười Cúc Nguyễn Văn Linh…
Các cán binh CS được lệnh chôn dấu võ khí, đợi lệnh trên đến từ Miền Bắc, từ Trung Ương Cục Miền Nam.
Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa, trong những năm đầu thập niên 50’s đã gặt hái được rất nhiều thành công như:
– Nhanh chóng hoàn tất định cư gần 1 triệu người tỵ nạn CS đến từ miền Bắc
– Kiện toàn miền Nam khiến VNCH được rất nhiều nước công nhận đồng thời Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm và Chánh phủ Miền Nam đã đem lại một cuộc sống tương đối dân chủ cho toàn dân của Miền Nam.
– Kinh tế và tình trạng xã hội của dân Miền Nam có những tiến bộ vượt bực chỉ trong vài năm.
– Các tổ chức nằm vùng của CS lần lượt bị quân dân của Miền Nam khám phá ra và triệt hạ
Bản Đề Cương Cách Mạng Miền Nam được Lê Duẩn, Xứ Ủy Nam Kỳ, gửi ra Bắc cho Bộ Chánh Trị của CSVN ở Hà Nội vào năm 1958. Trong Bản Đề Cương này, Lê Duẩn quả quyết: chỉ có đấu tranh võ trang mới có thể giải phóng (?) được Miền Nam. Các cán binh nằm vùng đang chịu áp lực rất mạnh có thể đi đến tan rã. Cũng theo Lê Duẩn, cuộc nổi dậy của các cán binh CS nằm vùng phải được bắt đầu cáng sớm càng tốt.
Cuộc Cộng Sản hóa Miền Nam được khởi đi bằng các cuộc tấn công của Du kích quân CS, phá hoại các dự án xây dựng, kiến thiết tại khắp mọi nơi ở Miền Nam. Du kích CS đã tàn sát không nương tay hàng ngàn viên chức xã, ấp. Phá hoại nhằm vào các cấu trúc căn bản của xã hội miền Nam như cầu cống, đường xá… được các cán binh CS thực hiện.
Trận Trãng Sụp, cách tỉnh lị Tây Ninh độ 8km, là trận đánh lớn đầu tiên, theo đó 1 Trung Đoàn của QLVNCH bị quân CS đánh úp, chịu nhiều thiệt hại. Trung Đoàn của VNCH do Trung Tá Trần Thanh Chiêu chỉ huy.
Các vụ đặc công ám sát, phá hoại, nổ mìn… xẩy ra thường xuyên, ngay tại Thủ Đô Sài Gòn khiến hàng ngàn người chết; các khu cư dân bị tàn phá. Khoảng cuối thập niên 60’s cho đến ngày mất Miền Nam 30/4/1975, Sài Gòn luôn bị CS pháo kích, gây nhiều thương vong và tàn phá các khu dân cư.
Năm 1968, ngay ngày Tết Mậu Thân, CS đã đưa chiến tranh vào các thành phố lớn, kể cả Sài Gòn. Chúng đã chiếm giữ Kinh Thành Huế trong 26 ngày. CS đã hành quyết hơn 6000 thường dân Huế trong thời gian họ chiếm Huế. CS giết người dân Huế bằng các phương pháp cực kỳ dã man, cực kỳ súc vật, cực kỳ ác độc mất nhân tính của con người bình thường.
Cuộc xâm lăng miền Nam chưa chấm dứt với sự thắng trận thật bất ngờ của CSVN. Cuộc chiến Quốc – Cộng bước qua một hình thái mới mẻ.
Khủng bố, tán sát do CSVN gây ra sau ngày họ chiếm được toàn Miền Nam
Ngày 30/4/1975, CSVN chiếm được toàn Miền Nam, không phải vì Quân CS Bắc Việt mạnh hơn quân dân của Miền Nam mà do sự xếp đặt của các thế lực quốc tế trong cuộc thư hùng giữa Tư Bản và Cộng Sản.
Nổ bom tại Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh (Bến tầu Sài Gòn) khiến 42 người chết, hơn 80 người bị thương hôm 26/4/1965.
Tiếng súng đã im trên toàn nước Việt, nhưng một giai đoạn mới của chết chóc, của lầm than khổ ải, của máu và nước mắt lại được Người Bolchevik VN mang lại cho quê hương. Cuộc chiến từ năm 1959 cho tới ngày 30/4/1975 đã tàn phá đế tận cùng quê hương, đã khiến cả triệu người bỏ mạng vì một ý tưởng điên rồ của Các Mác, đã khiến nhiều gia đình phải chia cách với mảnh khăn tang trên đầu. Tới nay hơn 4 triệu người đã phải bỏ quê hương. Hàng triệu người đã chết trên đường đi tìm tự do.
Ôi hai chữ TỰ DO sao mà quá đắt thế!!
Sau ngày 30/4/1975, CSVN tiếp tục đầy đọa, trả thù quân dân Miền Nam:
– Chỉ ít lâu sau ngày 30/4/1975, CSVN bắt đầu chiến dịch trả thù Quân, Cán, Chính của Miền Nam bằng cách lùa hơn 1 triệu người vào hơn 150 trại tù (mà họ gọi dưới cái tên mỹ miều là trại học tập, cải tạo). Các trại này được thiết lập trong rừng sâu, khỉ ho cò gáy. Các tù nhân bị CSVN giam giữ không hề được xét sử trong bất kỳ một Tòa Án nào. Thời gian trung bình bị giam giữ từ 5 năm tới 7 năm. Một số các vị Tướng của Quan Đội VNCH như Tướng Lê Minh Đ, Tướng Đỗ Kế G… chỉ được CS thả sau 17-18 năm tù đầy. Các Biệt Kích Miền Nam nhẩy toán ra Bắc trước 1975 bị
CSVN giam giữ suốt đời, không ngày về.
– Không kể một số đáng kể bị bệnh nặng sau một thời gian ngắn tù đầy được CS thả về để được chết bên người thân (thí dụ trường hợp của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương), hơn 165 000 người đã bỏ mình trong các trại tù do CS thiết lập.
Theo Tổ Chức Tưởng Niệm các nạn nhân của Cộng Sản (The Victimes of Communist Memorial Foundation): con số nạn nhân chết trong các trại tù CS xấp xỉ 850 000 người. CSVN chưa bao giờ nói thật con số chính xác những người đã chết trong các Trại Tù (CSVN gọi là các Trại Cải Tạo, Học Tập).
Việc giam giữ, tù đầy các Quân, Cán, Chính của Miền Nam đã vi phạm 5 trong số 11 Tội chống nhân loại (Crimes against Humanity) theo Luật Pháp Quốc Tế được dự trù tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Roma Statute)
– Tội ác thứ nhứt:
Tội cầm tù hay tước đoạt tự do thân thể (Imprisonnement or other severe deprivation physical liberty in violation of fundamental rules of internationnal law). CSVN, sau ngày 30/4/1975, đã cho hơn 1 triệu Quân, Cán, Chính của Miền Nam vào các trại tù. Không một hình thức án lệ nào được CSVN xử dụng.
– Tội ác thứ hai
Tội tra tấn, hành hạ (torture). Hành hạ bằng cách bỏ đói triền miên. Vì quá đói, người tù dễ dàng đánh mất phẩm giá (dignity). Bỏ đói là một hình thức tra tấn của CSVN. Nhiều người bị chết vì suy dinh dưỡng, thiếu thuốc men.
CSVN đã hành hạ bằng cách bắt tù nhân lao động đến kiệt lực (khẩu hiệu của CSVN: lao động là vinh quang)
Tra tấn về tinh thần bằng các buổi tuyên truyền, học tập, làm thu hoạch, dự các phiên Tòa của CS, dự kiến các buổi xử bắn tù nhân…. Đó là những hình thức hành hạ về tinh thần, nhồi sọ về chính trị (political indoctrination), tự phê bình, tự kiểm điểm (confession).
– Tội ác thứ ba
Tội giết người (murder). Ngay những ngày đầu sau khi chiếm được Miền Nam, CSVN đã thủ tiêu nhiều viên chức của Miền Nam, nhất là các nhân viên tình báo, Cảnh Sát, An Ninh Quân Đội… Giết một cách vô tội vạ khi các tù nhân trốn trại bị CSVN bắt lại.
Hành hạ các “tù cải tạo” cho đến chết là một hình thức giết người. Hàng trăm ngàn người đã bị giết chết trong các “trại tù của CSVN”.
– Tội ác thứ tư
Tội bắt người làm nô lệ (enslavement). Bên cạnh việc bỏ đói triền miên các người tù, CSVN còn bắt tù nhân làm việc khổ sai hàng ngày như câu vè: làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm ngày chủ nhật.
Rất nhiều tù nhân bị chết vì lao động khổ sai, bị bỏ đói triền miên, khi bị bệnh lại không có thuốc men. Thực là một địa ngục trần gian!
– Tội ác thứ năm
Tội thủ tiêu mất tích (enforced disappearance of persons). Thủ tiêu mất tích là “nghề” của CSVN. Không riêng gì trong thời kỳ chiến tranh, bị bắt mất tích là sở trường của CSVN trong mọi thời đại, không cứ gì trong thời chiến.
Đó là sơ lược 5 tội ác mang tính cách diệt chủng của CSVN đối với dân Việt (Crimes against Humanity)
Khi CSVN chiếm được toàn thể Miền Nam nước Việt, hơn 2 triệu người, bằng cách này hay bằng cách khác, đã bỏ nước ra đi. Cuộc bỏ nước ra đi, từ chối cuộc sống dưới chế độ CS, được kéo dài cho đến đầu thập niên 80’s. Tổng cộng hiện có hơn 4 triệu người Việt tỵ nạn CS. Họ sống rải rác tại hơn 100 nước tự do trên thế giới. Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Gia Nã Đại là những nước đã định cư gần như 75% Người Việt tỵ nạn CS. Người Việt tỵ nạn CSVN đã rất thành công tại các quê hương mới. Chỉ riêng tại Hoa Kỳ đã có gần 1/2 triệu chuyên viên, giáo sư… với trình độ khoa học, kỹ thuật cao, khá cao.
Khoảng hơn 1/2 triệu người đã bỏ xác trên đường vượt biên, vượt biển tìm tự do. Khi họ vượt biên hay vượt biển, họ chấp nhận cái chết còn hơn là sống dưới chế độ Cộng Sản. Không ai trong chúng ta không nhận thức được Người Việt tỵ nạn tại hải ngoại lại chính là nguồn hy vọng cho sự tồn vong của giống nòi, của văn hóa Việt.
Mối nguy mất nước về tay người Đại Hán để rồi dòng giống Lạc Hồng, dưới ách đô hộ của Đại Hán, sẽ biến mất trên quả đất này.
Với dân số trên dưới 1tỷ 5 người, dân Tầu cần đất để sống như một ông Tướng của Trung Cộng Trì Hạo Điền (Chi Haotian) đã tuyên bố vào khoảng thập niên 90’s. Khi đó Trì là Thượng Tướng, Bộ Trưởng Quốc Phòng (trong 10 năm, từ 1993 tới 2003) của Trung Cộng, trong bài nói chuyện: “Chiến tranh không xa chúng ta và sẽ là Bà Mụ của kỷ nguyên của Người Tầu” Cũng theo họ Trì, chiến tranh với Hoa Kỳ là điều không thể tránh được Họ Trì cho rằng việc đánh chiếm nước Mỹ, làm đất cho người Tầu đến định cư là một lối thoát, giải quyến vấn đề dân số nước Tầu quá đông. Bài nói chuyện này được phổ biến năm 2005. Ai cũng biết dân Tầu cần đất để sống, để sinh hoạt. Gần đây, việc hạn chế sinh đẻ đã được chánh quyền CS của Tầu bãi bỏ. Hậu quả là trong khoảng 10 năm tới, người ta sẽ chứng kiến dân Tầu sẽ tăng theo một tỷ lệ cấp thời (exponentiel).
Chiếm đoạt các nước khác bằng quân sự là truyền thống từ ngàn xưa của người Đại Hán. Hiện nay việc tiến chiếm bằng võ lực như những ngày xa xưa không còn nữa nên Trung Hoa lấn chiếm các nước khác một cách tinh vi hơn: bằng kinh tế nhất là bằng di dân. Sự thật ngày nay, trên quả đất này, bất kỳ một vùng hẻo lánh nào cũng có mặt người Tầu. Dù sống ở bất kỳ nơi nào, người Tầu vẫn là người Tầu, dù sau nhiều thế hệ, không bao giờ bị đồng hóa với dân bản địa. Ngày nay, Tầu đang dùng một chiến thuật khác để lấn chiếm nước khác, bằng cách cho rất nhiều di dân Tầu sang lập nghiệp cũng như dùng kinh tế, viện trợ là một thứ võ khí lợi hại trong việc chinh phục đất đai, diệt chủng một cách từ từ.
Người ta đã thấy TC dùng di dân + viện trợ kinh tế để đưa dân Tầu qua lập nghiệp ở Phi Châu, ở Chau Mỹ La Tinh.
Sau đây là vài thí dụ về tội ác diệt chủng của Đại Hán:
 
Tân Cương
Năm 1826, Trung Hoa chiếm Tân Cương, biến xứ này thành Khu Tự Trị Tân Cương. Đó là một vùng đất bao la, 1 triệu 6 km2. Sắc dân Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, đa số là theo Đạo Hồi. Hiện nay, dân số Tân Cương là 21 triệu 8. Dân Duy Ngô Nhĩ chỉ chiếm 8,3 triệu người. Dân Hán chiếm 38%, số còn lại là các sắc dân khác. Sau gần 200 bị người Hán đô hộ, dân Duy Ngô Nhĩ trở thành 1 sắc dân thiểu số ngay chính tại quê hương của họ.
Nội Mông Cổ
Là Khu Tự Trị thuộc Trung Hoa từ năm 1947… Dân số Nội Mông là trên 21 triệu 7 người, nhưng hiện nay người Nội Mông Cổ chỉ còn lại có 3 triệu 7 thôi. Số dân sai biệt 18 triệu biến đi đâu?
Tây Tạng
Trung Cộng mang quân sang chiếm Tây Tạng năm 1952, ngang nhiên biến nước này thành một Khu Tự Trị thuộc Trung Hoa Cộng Sản. Nền văn minh cũng như các di tích điện đài, chùa chiền bàng bạc chất Phật Giáo của Tây Tạng đã bị Trung Cộng phá hủy. Học Viện Phật Giáo nổi tiếng Larung Gar bị TC phá hủy hoàn toàn vào tháng 7 năm 2016.
Học Viện Larung Gar
T Tây Tạng gần vùng Hy Mã Lạp Sơn, giáp Ấn Độ
TC đang tiêu diệt văn hóa Tây Tạng. Ít năm nữa, văn minh Tây Tạng chỉ còn là những dấu vết của quá khứ.
Trước khi bị TC chiếm đóng, dân số Tây Tạng khoảng trên dưới 3 triệu người. Người Hán đã sang lập nghiệp ở Tây Tạng. Dân Đại Hán, hiện nay, đông hơn dân Tây Tạng gấp bội- độ 7 triệu người Hán. Dân Tây Tạng trở thành thiểu số trên chính quê hương của họ.
Khi bị TC chiếm đóng năm 1952, rất nhiều người Tây Tạng đã bỏ nước ra đi, định cư ở nhiều nước trên thế giới. Lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng là Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện sống lưu vong ở Ấn Độ. Ngài đã đến mọi nơi trên thế giới tự do để vận động cho sự sống còn của nước Tây Tạng.
Tóm lại, tại các “Khu Tự Trị” người dân bản địa đã biến mất dần dần sau nhiều năm bị TC đô hộ. Chính sách “diệt chủng” của người Tầu quả là ác độc.
Việt Nam
Đã và đang biến thành một Khu Tự Trị của Trung Hoa như những nước kể trên. Thảm họa diệt chủng do Trung Cộng chủ mưu với sự cấu kết, đồng lõa của Đảng CSVN. Khởi thủy từ những năm 50, Hồ Chí Minh đã hứa với Tướng Tầu Trần Canh là VN sẽ sẽ là một phần của Trung Hoa sau khi đuổi được quân Pháp. Trần Canh là 1 trong Ngũ Hổ tướng (Trần Canh, Trần Nghị, Bành Đức Hoài, Điệp Kiếm Anh và Chu Đức) của Trung Hoa Cộng Sản – do Mao Trạch Đông phái sang VN cùng một phái bộ Tầu, gọi là “để giúp VN đánh Pháp dành độc lập”.
Năm 1990, Đỗ Mười (lúc đó là CT Hội Đồng Bộ Trưởng tức Thủ Tướng) Nguyễn Văn Linh (lúc đó là Tổng Bí Thư) và Phạm Văn Đồng (lúc đó là Cố Vấn của Bộ Chánh Trị) đã sang Tầu để ký kết một Hiệp Ước với Tầu tại Thành Phố Thành Đô (Chengdu, tỉnh Tứ Xuyên (Hiệp Ước Thành Đô)
CSVN đã dấu kín, không cho toàn dân biết nội dung của Hiệp Ước này nhưng các “rò rỉ” đã cho mọi người biết rõ nội dung của Hiệp Ước này, theo đó VN sẽ trở thành 1 Khu Tự Trị của Tầu như các Khu Tự Trị đã kể ở trên sau năm 2060. Tiến trình “mất nước đó” sẽ được chính thức bắt đầu vào năm 2020. Trên thực tế Trung Cộng đã biến VN thành một thành phần của Đại Hán từ lâu, ngay từ những ngày Hồ và đồng bọn “bán linh hồn” cho quỷ sứ Đại Hán để đưa chế độ CS vào Việt Nam khoảng đầu thập niên 50’s.
– Người Tầu đã được tự do sang sinh sống, lập nghiệp ở VN, không cần bất cứ một mẩu giấy cho phép nào. Các Đặc Khu Trung Hoa mọc lên như nấm ở khắp mọi nơi trên quê hương VN, từ Nam ra Bắc. Miền Tây Nguyên Trường Sơn, xương sống chiến lược của quê hương VN, đang bị người Tầu hoàn toàn chiếm đóng. Họ lấy cớ khai thác “bâu xít”.
– TC đã làm tràn ngập quê hương VN bằng các thực phẩm, các hàng hóa, vật dụng có chứa chất độc chết người, sinh ra bệnh Ung Thư (UT). Tỷ lệ những người bị bệnh UT ở VN trở nên cao nhứt trên thế giới.
Vì quá dư thừa đàn ông (khoảng 200 triệu đàn ông Tầu không lấy được vợ), đàn ông Tầu sẽ sang VN lập gia đình với các cô gái Việt. Họ sẽ ở lại VN, sanh con đẻ cái. Đất nước VN sẽ bị người Tầu tràn ngập. Đân Việt sẽ dần dần bị người Hán diệt vong. Chủng tộc Việt sẽ biến mát từ từ. Dân số 90 triệu người Việt, sau 1 vài thế kỷ hay ngắn hơn, sẽ chỉ còn độ 2,3 chục triệu người thôi. Một viễn ảnh khiến ta lo sợ cho tương lai dân Việt, cho văn hóa Việt.
– TC đang hủy diệt miền châu thổ sông Cửu Long, hủy diệt châu thổ sông Hồng là 2 vựa lúa của quê hương VN bằng các đập nước được TC thiết lập tại thượng nguồn trong đất nước Tầu của Sông Cửu Long (ở Miền Nam VN) của sông Hồng (ở Miền Bắc VN). Châu thổ của sông Cửu Long sẽ bị ngập nước mặn từ biển tràn vào vì mực nước sông xuống thấp, Miền châu thổ phì nhiêu của Miền Nam VN sẽ không trồng trọt cầy cấy được. Dân Việt sẽ bị nạn đói đe dọa trầm trọng.
Tưởng cũng nên nhắc lại, trước ngày 30/4/1975, VN là một trong nhũng nước đứng đầu về xuất cảng gạo trên thế giới.
Các nhà máy như nhà máy của Công ty Formosa đang làm ô nhiễm vùng biển của VN. Nghề đánh cá ở ven biển bị đe dọa trầm trọng vì ô nhiễm trong rất nhiều năm. Nên nhắc lại chánh Phủ Nhật Bản phải bỏ ra hơn 50 năm để làm sạch vùng biển Mimata bị ô nhiễm vì chất thủy ngân. VN không có khả năng và phương tiện như Nhật nên vùng biển VN còn bị ô nhiễm dài dài.
Về phương diện quân sự
TC đang bao vây VN trên 4 hướng:
– Về phía Đông, Hải Quân của TC đã chiếm gần như hoàn toàn Biển Đông. Họ đã xây dựng một căn cứ quân sự khổng lồ ở Đảo Hải Nam, đối diện với các yếu khu ở Miền Trung Việt Nam. Nếu chiến tranh xảy ra, từ căn cứ ở đảo Hải Nam, TC sẽ chiếm cứ Miền Trung dễ dàng để cắt VN ra làm 2. Chỗ hẹp ở Đèo Ngang (chỉ có 52 km) sẽ bị chiếm. Một đơn vị nhỏ của quân thù “chốt” ở đây sẽ đủ sức ngăn chận một đoàn quân tiếp viện khá dễ dàng.
– Ở phía Tây, TC chỉ cần đóng các đập ở thượng nguồn của sông Cửu Long, cũng như đóng các đập ở thượng nguồn của Sông Hồng, sông Đà là VN sẽ bị thiếu thực phẩm trầm trọng. Nạn đói sẽ xảy ra, đe dọa hàng chục triệu dân Việt.
– Người Tầu đã tràn ngập VN, từ Nam ra Bắc. Khi hữu sự, họ sẽ biến ra những người lính một cách dẽ dàng.
Tóm lại, đối đầu với TC, VN bị tứ bề thọ địch. Mặt khác, với TC, các nhà lãnh đạo của CSVN ở Hà Nội đã tỏ ra thần phục một cách quá hèn hạ. Điều đó cũng dễ hiểu vì CSVN đã dâng hiến quê hương VN cho đàn anh Tầu để trở thành 1 Khu Tự Trị của nước Đại Hán.
Với sự tiếp tay của CSVN, TC đã và đang chiếm cứ VN. Chắc chắn các người Cộng Sản Việt Nam sẽ tiếp tay đắc lực cho người Tầu để thi hành việc diệt chủng dân Việt.
Nữ Nghệ sĩ Kim Chi, rất nổi tiếng trong chiến tranh, trong một cuộc phỏng vấn gần đây, khi Bà sang Hoa Kỳ, đã tuyên bố: “Họ đã bán nước cho Tàu rồi”
Hỡi những người CSVN!
Lịch Sử của dân tộc không tha thứ tội bán nước, tội diệt chủng dân Việt của các quí vị. Đời đời người CSVN sẽ bị người Việt nguyền rủa vì đã dâng quê hương VN cho kẻ thù truyền kiếp Đại Hán ở phương Bắc.
(McGill University, Montréal, Canada)
Nguyễn Lương Tuyền MD, CSPQ, FRCSc

Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2017: LM Nguyễn Văn Khải vạch mặt CSVN vi phạm Quyền Tự Do Tôn Giáo

Ngày 7-10 tháng 9, năm 2017 tại Sydney, Úc Châu.

  • LM Nguyễn Văn Khải chính thức lên tiếng CSVN đàn áp Tôn Giáo tại Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới P1

  • LM Nguyễn Văn Khải chính thức lên tiếng CSVN đàn áp Tôn Giáo tại Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới P2

.

ĐẠI HỘI GIỚI TRẺ THẾ GIỚI 2017

THÔNG BÁO

V/v: Ghi Danh Tham Dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới từ ngày 7-10 tháng 9, năm 2017 tại Sydney, Úc Châu.

Kính thưa toàn thể anh chị em, các bạn trẻ ở khắp Năm Châu. Phong Trào Giới Trẻ Thế Giới Vì Nhân Quyền xin trân trọng thông báo:

Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới với chủ Đề “Việt Nam Con Đường Nhân Bản” đã bắt đầu chính thức nhận ghi danh tham dự Đại Hội cho đến hết ngày 30/06/2017 qua website: https://humanrightsyouth.org/interna…nference-2017/

Thưa các bạn, có thể nói đây là một Đại Hội đầu tiên được tổ chức với một tầm vóc quy mô và rộng lớn nhất từ trước đến nay trong Cộng Đồng Việt Nam tại Hải ngoại với những diễn giả nổi tiếng như:

– Ông Michael Kirby, Cựu Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Úc Châu cũng là thành viên của Ủy Ban Liên Hiệp Quốc

Các tu sĩ đã đấu tranh cho nhân quyền như:

– Đức Giám Mục Vincent Nguyễn Văn Long
– LM. Tađêô Nguyễn Văn Lý
– LM. Phêrô Nguyễn Văn Khải
– Bà Claire Mallinson, Giám Đốc Amnesty International tại Úc Đại Lợi và nhiều diễn giả đặc biệt khác nữa.

Ban Tổ Chức Đại Hội tha thiết kêu gọi các bạn trẻ từ 18-45 tuổi tích cực tham gia. Ban Thông Tin Đại Hội xin ghi ra những chi tiết quan trọng cần được lưu ý sau đây:

1. – Lệ phí ghi danh tham dự Đại Hội là $1,100 Đô-la Úc, bao gồm chi phí ăn ở và di chuyển trong suốt thời gian tham dự Đại Hội kể từ đêm Khai Mạc vào tối thứ Năm, ngày 07/09/2017. Kết thúc vào tối Chủ Nhật, 10/09/2017.

2. – Có 2 giá vé tham dự khác nhau, loại bình thường $1,100 Đô-la Úc có phòng ở chung với một tham dự viên khác.

3. – Loại vé $1,500 Đô-la Úc, ở riêng một phòng (Vé này chỉ có giới hạn)

4. * 50 người ghi danh đầu tiên trước ngày 1/5/2017 sẽ được bớt $100 Đô-la Úc. Do đó, trước khi trả tiền, các bạn nhớ dùng discount code ‘earlybird’.

* Các em học sinh đang học lớp 12 và những bạn đang học toàn thời với ngành học tối thiểu là ba năm trở lên, quý vị tu sĩ các tôn giáo và những bạn có quốc tịch VN sẽ được giảm 20% VÀ còn được bớt thêm $100 Đô-la Úc nếu ghi danh trước 1/5/2017!

Vậy trước khi ghi danh, xin quý vị gửi giấy chứng minh thích hợp đến Ban Ghi Danh qua địa chỉ email: conference@humanrightsyouth.or g để lấy discount code.

Nếu các bạn cần liên lạc hoặc thắc mắc về việc ghi danh, xin vui lòng email cho Ban Ghi Danh theo địa chỉ email trên.

Trân trọng kính chào và hẹn gặp nhau trong ngày Đại Hội,

Ban Thông Tin,
Phong Trào Giới Trẻ Thế Giới Vì Nhân Quyền

* Kính mong anh chị em giúp Phong Trào phổ biến thật rộng rãi. Xin đa tạ. 

Website: https://humanrightsyouth.org/interna…nference-2017/

Email: conference@humanrightsyouth.or g

The International Youth Conference for Human Rights

“Vietnam: Pathway to Humanity”

Welcome to the First International Youth Human Rights Conference which will be held at the Fairmont Resort in the Blue Mountains, Sydney from 7-10 September 2017.

The official conference opening ceremony will be held on the Thursday evening (7 Sep 2017) at the Westley Conference Centre right in the centre of Sydney CBD. Then afterward, all delegates will be transported to the Fairmont Resort which is just over an hour from Sydney CBD.

The theme of the conference is “Vietnam: Pathway to humanity” with the ultimate purpose of “raising the Human Rights awareness and responsibility” amongst the young adults around the globe. During the 3-day conference, the delegates will have the opportunity to learn, to share the experiences in groups with the focus on creative/innovative solutions as well as to cultivate the Human Rights mindset/culture solidly built on the foundation of humanity.

.

Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 32 (2019) sẽ được tổ chức tại Panama 

 

NGÀY 4/9/2017: BIẾN CỐ KHỦNG BỐ LM. NGUYỄN DUY TÂN, GIÁO XỨ THỌ HÒA, GIÁO PHẬN XUÂN LỘC

 

  • NHÓM CHÁU NGOAN CỦA HỒ ĐẾN KHỦNG BỐ LM. NGUYỄN DUY TÂN

  • SỰ PHẢN KHÁNG CỦA GIÁO DÂN GX THỌ HÒA: BẮT TRÓI CÁC TÊN KHỦNG BỐ MANG VŨ KHÍ

  • Đám khủng bố (dlv) nhục nhã đọc bản tường trình việc tấn công cha Nguyễn Duy Tân

Sau khi nhục nhã làm tờ tự thú tại giáo xứ Thọ Hòa để thoát thân, bọn khủng bố liền trân tráo: “Ngày 4/9/2017 tôi đến giáo xứ Thọ Hòa gặp Nguyễn Duy Tân, nhưng không gặp được ông ta mà chỉ gặp chó trong cũi và bầy đàn của nó. Tôi và bạn bè bị chó cắn….(KB. Nguyễn Trọng Nghĩa nói)

  • SAU LƯNG CÁC TÊN KHỦNG BỐ LÀ AI?

– Trần Nhật Phong

– KS. Hoàng Ngọc Diêu

  • Phạm Văn Thành

.

Mang súng vào giáo xứ đòi ‘đối thoại’ với linh mục vì xúc phạm HCM

Tên Nguyễn Trọng Nghĩa, cầm đầu bọn khủng bố

VOA – Ngày 4/9, một nhóm hơn chục người cầm loa, biểu ngữ và vũ khí xông vào Giáo xứ Thọ Hòa ở Đồng Nai đòi “đối thoại” với linh mục quản xứ vì đã “xúc phạm Hồ Chí Minh” và “đòi lật đổ chính quyền Cộng sản.

Theo lời kể của Linh mục Nguyễn Duy Tân, vào khoảng 10:23 sáng 4/9, một nhóm người đi bằng xe buýt đến Giáo xứ Thọ Hòa, xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai và đòi “đối thoại” với Linh mục Tân, quản xứ Thọ Hòa.

“Đối thoại” với súng và roi điện

“Họ đến và mang theo loa, băng rôn, làm ồn ào lắm nên tôi không tiếp. Họ bất lịch sự nữa”.

“Khoảng 15 phút sau, các ông trùm và giáo dân khoảng 20 người đến nói chuyện với họ. Nhưng họ vẫn cứ đòi đối thoại với tôi về 2 vấn đề. Thứ nhất là chuyện xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thứ hai, họ nói về vấn đề tôi đòi lật đổ chính quyền Cộng sản Việt Nam. Họ đòi đối thoại với tôi về hai vấn đề đó. Tôi không đối thoại với họ là vì họ vu khống. Nếu tôi có tội thì đã có nhà chức trách, nhà nước xét xử tôi”.

Bị giáo dân bao vây, nhóm người được gọi là “dư luận viên” đã ném một số vũ khí mang theo sang các nhà lân cận.

Tang vật các giáo dân thu được từ nhóm người xông vào Giáo xứ Thọ Hòa ngày 4/9/2017.

Tang vật các giáo dân thu được từ nhóm người xông vào Giáo xứ Thọ Hòa ngày 4/9/2017.

LM. Tân kể với VOA-Việt ngữ:

“Các ông trùm đã đóng cổng nhà thờ lại và công an tới muốn giải cứu họ bằng cách đưa về xã. Giáo dân họ báo cáo là trong nhóm người này có 2 khẩu súng. Khám xét họ thì họ chạy ra và ném súng sang nhà hàng xóm là nhà ông Khiêm”.

Ngoài ra nhóm này còn mang theo một roi điện và cũng ném sang một nhà ở kế cận khác trong khi bị bao vây.

Sau đó, lực lượng công an huyện, an ninh, công an chìm kéo đến khá đông tại Giáo xứ Thọ Hòa, đứng đầu là Thượng tá Nguyễn Thành Lợi – Phó Trưởng Công an huyện Xuân Lộc.

“Chủ trương của ông Lợi vẫn là làm sao để giải cứu con tin, đưa về huyện. Nhưng giáo dân Thọ Hòa không chấp nhận vì không thể tin Cộng sản. Đưa về huyện, họ sẽ cùng phe với nhau và nói dối hết, khẩu súng sẽ trở thành cái hộp quẹt mà thôi”.

Khoảng 4 giờ chiều, sau khi từng người trong nhóm “dư luận viên” viết xong các bản tường trình về sự việc, giáo dân Thọ Hòa đã để cho công an dẫn giải 13 người về huyện Xuân Lộc.

Xúc phạm Hồ Chí Minh và Đảng

Thời gian gần đây, Linh mục Nguyễn Duy Tân thường xuyên bị một số người gọi điện thoại quấy rối với lý do muốn “đối thoại” với ông về một số chủ đề mà ông công khai bày tỏ trên trang Facebook cá nhân. Nhóm người đến giáo xứ Thọ Hòa hôm 4/9 cũng dựa vào cùng lý do.

Linh mục Tân giải thích quan điểm của ông về việc này:

“Về vấn đề xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi đã đối thoại với công an tỉnh Đồng Nai rất nhiều lần rồi. Tôi nói bác Hồ không phải là danh nhân văn hóa thế giới và tôi đã lý luận thua họ. Tôi đã phải về làm giấy chứng nhận bác Hồ là danh nhân văn hóa thế giới, có ký tên, đóng mộc hẳn hoi. Tôi đã tốt hơn UNESCO vì UNESCO chưa chứng nhận mà tôi đã chứng nhận như vậy là tốt rồi”.

“Báo chí nước Anh xếp 13 đồ tể giết người ác nhất thế giới, trong đó có tên bác Hồ. Đó đâu phải là tôi xúc phạm”.

“Còn vấn đề lật đổ chính quyền, tôi chưa bao giờ nói lật đổ chính quyền cả. Các bài viết của tôi chỉ thể hiện ước mong Cộng sản giải tán thôi. Bài hiến kế cho Sài Gòn hết kẹt xe thì gồm 3 bước. Bước 1 là giải tán Đảng Cộng sản. Bước 2, 3 mới đi vào chuyên môn kiến trúc của tôi. Tôi là một kiến trúc sư nên hiến kế rất thật lòng. Bước 1 phải giải tán Đảng Cộng sản đã thì mới thực hiện được bước 2, bước 3”.

Trước đây, vào dịp 30/4, Linh mục Nguyễn Duy Tân cũng bị chính quyền tỉnh Nghệ An ra công văn cấm giảng lễ trong địa phận tỉnh này. Cùng thời điểm, một linh mục của Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, cũng bị cấm xuất cảnh sau khi ông có bài giảng 30/4 gây chấn động cộng đồng mạng.

Đối diện với nguy cơ có thể gặp nguy hiểm vì những phát biểu “nhạy cảm”, LM Tân nói với VOA rằng ông không thể làm khác hơn vì ông là một linh mục Công giáo.

“Tôi là linh mục. Tôi sống theo tinh thần Chúa Kitô, phải công lý hóa xã hội, sự thật hóa xã hội và bác ái hóa xã hội. Nhưng vì trong chế độ Cộng sản độc tài không thực thi công lý, nên người Công giáo và các linh mục càng phải làm sao để công lý hóa xã hội”.

Theo LM Tân, chiến lược “cây gậy và củ cà rốt” của Đảng Cộng sản đã có hiệu quả rất lớn trong việc khiến cho nhiều người dân quên đi “công lý” khi nhìn thấy những “củ cà rốt”- mối lợi trước mắt.

 

Tổng thống Putin nêu phương án đầy bất ngờ để giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên

Trong khi Mỹ và đồng minh kêu gọi siết chặt cấm vận Triều Tiên, tổng thống Nga Vladimir Putin lại cho rằng cần phải để Bình Nhưỡng tham gia vào các dự án chung của quốc tế.

Phát biểu tại Diễn đàn kinh tế phương Đông (EEF), đang diễn ra ở Vladivostok, Nga, tổng thống Putin cho rằng gắn kết Triều Tiên với các chương trình quốc tế là cách để hạ nhiệt căng thẳng trên bán đảo.

Ông nhận định, “Triều Tiên cần phải dần dần được tham dự vào các mối hợp tác trong khu vực. Riêng phía Nga đã có một số đề xuất cụ thể mà mọi người đều biết, như xây dựng tuyến đường sắt chung để nối tuyến đường sắt xuyên Siberia với các tuyến đường sắt đi qua Triều Tiên, cũng như sự phát triển của các đường ống dẫn (dầu, khí…), trong đó có một số cảng của Triều Tiên”.

Ông cho rằng việc gây ra bầu không khí căng thẳng về quân sự và leo thang đe dọa sẽ phản tác dụng.

“Họ (Triều Tiên) tin rằng chỉ có sở hữu vũ khí hạt nhân và công nghệ tên lửa mới là cơ hội duy nhất để bảo vệ chính mình,” Putin nói. “Các bạn có nghĩ là họ sẽ sẵn sàng vứt bỏ tất cả những điều đó hay không?”

Theo tổng thống Nga, nếu đường hướng mà Nga đề xuất được áp dụng thì cục diện khu vực sẽ dần thay đổi, cũng như quan hệ giữa Bình Nhưỡng và Seoul.

“Và rồi chúng ta sẽ có thể kỳ vọng một số bước tiến mới. Tuy nhiên, việc dọa dẫm họ là bất khả thi.”

Ông nói thêm, “chúng ta nên lo ngại, nhưng cũng cần hợp tác để giải quyết vấn đề. Tôi nhấn mạnh rằng chúng ta có đủ khả năng đạt được những kết quả tích cực”, và khẳng định việc tiếp tục đầu tư vào các dự án khu vực hoặc có nhân tố Triều Tiên là khả thi.

Ông Putin bày tỏ tại EEF rằng, vũ khí hủy diệt hàng loạt sẽ không được sử dụng để giải quyết vấn đề của Triều Tiên, và xung đột sẽ không mở rộng. Khả năng xử lý tình hình là thông qua đối thoại.

“Giống như người đồng cấp Hàn Quốc của mình (tổng thống Moon Jae In), tôi tự tin rằng xung đột sẽ không mở rộng hay dính líu đến vũ khí hủy diệt hàng loạt, bởi tất cả các bên sẽ có đủ nhận thức chung về trách nhiệm với người dân trong khu vực, cho nên chúng ta sẽ giải quyết thành công vấn đề bằng con đường ngoại giao.”

Trước đó vào ngày 6/9, Bộ trưởng phát triển vùng Viễn Đông của Nga, ông Aleksandr Galushka cho biết sau cuộc gặp với phái đoàn Triều Tiên ở EEF: “Các đối tác Triều Tiên của chúng tôi hướng tới phát triển các mối quan hệ kinh tế và thương mại.”

“Chúng tôi hướng sự chú ý của họ đến thực tế rằng các hoạt động hạt nhân và tên lửa đang kìm hãm cơ hội phát triển các liên hệ về kinh tế và thương mại, và hủy hoại nghiêm trọng khía cạnh kinh tế thương mại trong quan hệ song phương,” ông nói. “Chúng tôi đã yêu cầu họ ngừng hành động như vậy trong tương lai, vì điều đó làm vô hiệu các nỗ lực của ủy ban liên chính phủ Nga-Triều.”

Đoàn đại biểu Triều Tiên, do Bộ trưởng quan hệ kinh tế đối ngoại Kim Young Jae dẫn đầu, đã đưa ra một loạt đề xuất ở các lĩnh vực có khả năng hợp tác với Nga.

Trong cuộc gặp với ông Moon Jae In ngày mùng 6, ông Putin cũng bày tỏ sẵn sàng phát triển các mối liên hệ với cả Hàn Quốc lẫn Triều Tiên. Ông chủ điện Kremlin đề cập các dự án 3 bên gồm “cung cấp khí đốt từ Nga cho bán đảo, tích hợp lưới điện và mạng lưới đường sắt ba nước”.

(Theo Soha News)

Bauxite Cao Nguyên Trung Phần mới là hiểm họa Hán hóa thực sự

Nhận định về lá thư của PTT CS Hoàng Trung Hải gởi PCT CS Nguyễn Thị Bình ngày 16 tháng 12 năm 2008
Mai Thanh Truyết (Danlambao) – Đây là lá thư trả lời của Phó Thủ Tướng CS Hoàng Trung Hải trả lời cho Phó Chủ tịch Nước Việt Nam CS Nguyễn Thị Bình sau khi nhận được thư góp ý của Bà về việc khai thác quặng mỏ bauxite ở Đắk Nông có thể gây nhiều tác hại về môi trường, khí hậu đối với cả vùng rộng lớn “Nam Trung Bộ” (tức là Nam Trung phần Việt Nam). Lá thư gồm 4 trang (Xin xem phụ chú 1 phía dưới).
Hoàng Trung Hải là ai?

Hoàng Trung Hải và TT TC Ôn Gia Bảo

Ngày từ đầu năm 2008, rất nhiều báo chí Việt Nam đều nêu tin về việc khai thác quặng Bauxite ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam với nhiều hàng tựa như sau:

Tờ Người Việt đã đăng một bài viết khiến dư luận giật mình: “Trung Quốc gần như ‘nắm’ hết các mỏ khoáng sản Việt Nam”;
Báo Tuổi Trẻ đăng bài “Doanh nghiệp Việt đứng tên cho chủ Trung Quốc ‘đào’ khoáng sản”, trong đó dẫn lời ông Nguyễn Văn Thuấn, Tổng Cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản (Bộ Tài nguyên – Môi trường): “Đơn cử như ở phía Bắc có đến hơn 60% mỏ có dấu vết của các doanh nghiệp đến từ Trung Quốc. Người Trung Quốc gần như đứng đằng sau điều hành việc khai khoáng của chúng ta”; “Nếu tiếp tục đào bới như vậy sẽ là một thảm họa cho đất nước. Tài nguyên nếu chưa khai thác thì để lại đó tương lai con em chúng ta tiếp tục khai thác”;
Tờ Sống Mới với tựa “Phổ biến tình trạng Trung Quốc đội lốt doanh nghiệp Việt đào khoáng sản”;
Báo Đất Việt nêu: “Người Trung Quốc đứng sau điều hành đào khoáng sản Việt Nam”; và tiếp theo ngày hôm sau “Trung Quốc muốn nắm ngành khai thác khoáng sản của Việt Nam”; và sau đó lại tiếp “60% giấy phép khai khoáng bị bán cho TQ là… khiêm tốn!”, dẫn lời TS Nguyễn Thành Sơn cho rằng con số 60% giấy phép khai khoáng bị bán cho Trung Quốc kia là còn “khiêm tốn” và chưa phản ánh đúng mức độ đáng báo động của tình hình: “Hậu quả đương nhiên là tài nguyên khoáng sản bị bán rẻ, bị khai thác một cách vơ vét tàn bạo, và môi trường bị xâm hại (không có ai chịu trách nhiệm).”
Phía sau tất cả những dự án điển hình kể trên, đâu đây ai cũng thấy bàn tay lông lá của Trung Cộng, nhưng thực sự nguyên ủy của nó thật ra vô cùng đơn giản và dễ hiểu. Đó là sự hiện diện của PTT phụ trách kinh tế Hoàng Trung Hải là một người Hán trá hình. Đã từng có Tâm Huyết Thư của nhiều đảng viên “tiền bối” tố cáo lý lịch người Hán của ông Hoàng Trung Hải, có cha tên là Sì Sói, sinh quán tại Long Khê, Chương Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc.
Và người trực tiếp đề bạt cho Hoàng Trung Hải vào chiếc ghế quan trọng thứ hai trong chính phủ khóa mới: Phó Thủ tướng “phụ trách kinh tế” (từ ngày 2.8.2007) nhằm mục đích thực hiện các đề án trên.
Các chức vụ HTH nắm do NTD đề bạt là:
– Trực tiếp phụ trách các bộ: Công Thương, Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Xây dựng, Giao thông – Vận tải, và Tài nguyên – Môi trường.
– Chủ tịch Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước;
– Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các Dự án trọng điểm về dầu khí;
– Trưởng Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các Vùng kinh tế trọng điểm;
– Trưởng Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;
– Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản;
– Trưởng ban Ban Chỉ đạo Quy hoạch và Đầu tư Xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội;*
– Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành Giao thông vận tải;
– Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận;
– Trưởng ban Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án Thủy điện Sơn La;
– Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước Xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia;
– Trưởng ban Ban Chỉ đạo Xây dựng Nhà Quốc hội;
– Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về điều tra cơ bản tài nguyên – môi trường biển;
– Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch điện VI,
– Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia;
– Trưởng ban ODA (Viện trợ Phát triển Chính thức) Quốc gia;
– Chủ tịch Ủy ban An ninh Hàng không Dân dụng Quốc gia;
– Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, v.v.
Chúng ta hình dung một người với ngần ấy chức vụ quan trọng như trên, có chăng chỉ là một…hình nộm hay một “robot” mà thôi!
Tất cả có nghĩa là PTT CS Hoàng Trung Hải hầu như nắm trọn toàn bộ nền kinh tế Việt Nam trong tay.
Khu mộ nhà Hoàng Trung Hải ở làng Sơn Đồng, Quỳnh Giao, 
Quỳnh Phụ, Thái Bình (dòng chữ trên cột vàng bên trái:
Hoa Kiều Tiêu Hữu Tổng Mộ)
Và Cty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa, Vũng Áng năm 2013: Đó chính là do Phó Thủ tướng Đặc trách Kinh tế Hoàng Trung Hải cấp giấy phép qua Công văn số 323/TTg-QHQT ngày 4/3/2013 “đồng ý chủ trương cho Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa – Đài Loan lập Dự án đầu tư nhà máy liên hợp luyện thép và cảng nước sâu Sơn Dương tại Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh” và Công văn số 869/TTg-QHQT ngày 6/6/2008 “đồng ý việc Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh”. (Xem Phụ chú 2).
Gần đây nhất, vào ngày 13/8 vừa qua, nhân vụ “ùn tắt” ở Cai Lậy, và sau sự kiện “Cai Lậy thất thủ” khiến hàng loạt ung nhọt của ngành giao thông bị phơi bày, chính HTH là người chỉ đạo việc thu phí ở Cai Lậy qua Công văn số 1908/TTg-KTN ngày 11/11/2013, PTT Hoàng Trung Hải chỉ đồng ý chủ trương xây dựng tuyến tránh quốc lộ 1 đoạn qua thị trấn Cai Lậy, chứ không đề cập đến hợp phần tăng cường mặt đường QL1. Liệu ông ta có bị hề hấn gì không hay vẫn tiếp tục “bình chân như vại” như trong vụ đại thảm họa môi trường mang tên “Formosa Hà Tĩnh” mà ông ta là chính danh thủ phạm?
Chưa hết, trong 9 năm nắm giữ vị trí quan trọng thứ hai trong chính phủ (chỉ sau Thủ tướng), ông Hoàng Trung Hải cũng đã góp phần quyết định vào “thành tích” băm nát quy hoạch Hà Nội, hay “dâng” 90% dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia cho Trung Quốc, v.v.
Câu hỏi đặt ra ở đây là: Nhờ những “thành tích” nêu trên hay vì lý do gì khác mà ngài cựu Phó Thủ tướng đã ngang nhiên bước vào Bộ Chính rồi “nắm” bộ máy đảng – chính quyền – quân đội của Hà Nội “ngàn năm văn vật” từ Đại hội XII?
Bài viết xin tiếp thêm nhiệm vụ và vai trò của Hoàng Trung Hải trong một việc điển hình là khai thác Bauxite ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam
 
2. Nội dung Lá thư biện giải của Hoàng Trung Hải
Nhận thấy có “rất” nhiều điều lý giải trong thư trên thể hiện một tinh thần phản khoa học và hoàn toàn không có tính cách khả thi, nhân danh một người làm khoa học, chuyên môn trong việc thanh lọc phế thải lỏng và bùn (sludge), người viết xin lần lượt phân tích từng điểm một trong thư. 
Lá thư gồm bốn trang. Trang một nói về tổng quát khu khai thác cũng như quyết định của Nghị quyết Đại hội đảng X về phương hướng phát triển xã hội năm 2006-2010; từ đó đưa đến Quyết định 167 của TT CS Nguyễn Tấn Dũng ngày 1/11/2007.
Giai đoạn khai thác là dự kiến triển khai 6 dự án, nhưng đến năm 2010 chỉ khai thác 3 mà thôi. Đó là Tân Rai (Lâm Đồng), Nhân Cơ (Đắc Nông), và Kon Hà (Gia Lai). Các trang kế tiếp nói lên các quy hoạch, ảnh hưởng lên môi trường và phương cách giải quyết vấn đề:
3. Về quy hoạch vận tải
Chủ trương xây dựng tuyến đường sắt Tây Nguyên- Bình Thuận và cảng biển tại Hòn Kê Gà (Bình Thuận) để phục vụ cho việc vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm alumin, đảm bảo đồng bộ với việc khai thác, chế biến quặng bauxite và kết hợp vận chuyển hàng hóa, hành khách, góp phần phát triển kinh tế-xã hội khu vực Tây Nguyên là điều kiện tiên quyết đã được Thủ tướng chính phủ chỉ đạo”. (1)
Qua quy hoạch trên chúng ta nhận thấy, vùng Cao nguyên Trung phần Việt Nam có cao độ từ 400 đến 600 thước so với mặt biển và các đồi núi từ Tây sang Đông thường bị cắt ngang bởi nhiều thung lũng sâu, do đó việc thiết lập một đường xe lửa không phải là chuyện dễ dàng trong một vùng đồi núi chập chùng quanh co. Với tình trạng kinh tế tài chính và khả năng chuyên môn của nhân sự hiện có tại nơi nầy, việc xây dựng trên cần phải mất thời gian ít nhất phải trên 5 năm(!) sau khi thực hiện chi tiết kỹ thuật cho dự án. Cũng như việc xây cảng Bình Thuận cần phải thực hiện song hành mới có thể đi vào hoạt động được. Do đó, chỉ nội hai dự án nầy thôi cũng cho thấy thời biểu thực hiện chắc chắn sẽ không thể nào theo đúng như đã dự trù và cũng chỉ nằm trong quy hoạch của “nhà nước” mà thôi.
Thêm nữa, nôi dung cũng như mục đích xây dựng cũng chỉ để “phục vụ” việc chuyên chở alumin. Người viết suy diễn thêm là việc chuyên chở nhôm ròng trong khai thác sẽ không bao giờ (?) thực hiện vì không nằm trong quy hoạch nêu trên!
Và cho đến hôm nay (21/8/2017), chưa có 1 m đường sắt nào được “lót” trên tuyến đường sắt “ảo” này!
4. Về nguồn điện nước cho dự án
 
Về nguồn cung cấp nước chủ yếu lấy từ sông Đồng Nai (lưu lượng bình quân 11m3/s) và một số suối trong khu vực. Nguồn cung cấp điện cho sản xuất chủ yếu được lấy từ nguồn điện của các nhà máy sản xuất alumin. (ví dụ tại Dự án Đắk Nông, dự kiến đầu tư 3 tổ máy phát điện 3×30 MW) và hệ thống điện quốc gia.” (2)
Trong một số “biện giải” sau này và trong chi tiết của dự án, người viết được biết là có nằm trong quy hoạch để thực hiện một nhà máy thủy điện tại Đắt Tít với công suất 144 MW và lấy nước từ 4 hồ lớn chạy dọc theo sông Serépok để cung cấp nước cho đập thủy điện. Trong lúc đó, trong thư ghi là xây dựng 3 tổ máy (dường như là máy phát điện chạy bằng than hay diesel?)
Như vậy, chẳng lẻ có hai dự án khai thác quặng tại Nhân Cơ?
Hay là có cảnh trống đánh xuôi kèn thổi ngược?
Hay là cùng một dự án mà do hai cơ quan khác nhau thực hiện?
Hay là dự án chỉ nói chung chung và thực hiện đến đâu rút kinh nghiệm đến đó?
Hay là chỉ nhắm tới việc chính thức hóa việc khai thác trước đã để “hợp thức hóa” sự hiện diện của người công nhân và chuyên viên TC do như cầu gấp rút của đàn anh nước lớn trong ý định xâm nhập miền cao nguyên Trung phần Việt Nam?
Có lẽ, phần… hay là sau cùng là đúng hơn cả!
5. Về ảnh hưởng môi trường
“Về ảnh hưởng môi trường trong quá trình khai thác bauxite và sản xuất alumin, Bộ công Thương và Tập đoàn Công nghệ Than- Khoáng sản Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp giảm thiểu ô nhiễm bùn đỏ, xin nêu khái quát như sau:”(3)
“Ảnh hưởng chiếm diện tích đất mặt: Giải pháp khắc phục: Do diện tích phân bổ bauxite trải trên diện tích rất lớn, trong quá trình khai thác dự kiến áp dụng phương pháp và trình tự khai thác “cuốn chiếu”. Cụ thể là: chia khai trường (?) thành nhiều khu vực, khai thác dứt điểm từng khu vực mới chuyển sang khu vực khác; khi tiến hành khai thác khu vực tiếp theo sẽ triển khai công tác hoàn thổ, phục hồi không gian của khu vực đã khai thác. Trong quá trình bóc đất mặt, riêng lớp đất màu trên mặt (lớp đất thịt(?)), đổ đống riêng để rải cùng với đất mùn, phân bón hữu cơ lên diện tích được hoàn thổ. Phương pháp nầy hầu hết được áp dụng có hiệu quả tại các mỏ bauxite ở Trung Quốc…” (4)
Nếu phương pháp nầy được thực hiện thành công tại TQ, tại sao TC lại chấm dứt ngưng khai thác hàng trăm quặng mỏ đang tiến hành trong nước, để “khăn gói” gấp rút gởi người và máy móc sang tận một nơi xa xôi để… bắt đầu “làm lại”? 
Chúng ta có thể hình dung một bàn cờ, làm xong một ô vuông, rồi hoàn thổ (?), rồi làm tiếp. Xin đề nghị tiếp là sau khi hoàn thổ thì cần trồng cây xanh hay khai thác cây công nghiệp để trả lại thiên nhiên cho thiên nhiên tức là bảo vệ môi trường và tăng thêm năng suất khai thác, đem lại hiệu quả kinh tế cao!
6. Về việc tuyển rửa quặng bauxite
Và siêu việt hơn nữa là “khâu” “tuyển rửa quặng bauxite (bùn thải quặng đuôi)”
“Để thu hồi tinh quặng bauxite ở Tây Nguyên cần phải tuyển quặng bauxite nguyên khai. Công nghệ tuyển quặng bauxite ở Tây Nguyên là công nghệ tuyển rửa trọng lực. Lợi dụng các thung lũng trong khu vực nầy để xây dựng các hồ chứa quặng đuôi. Các quặng đuôi đều được thiết kế hệ thống thu hồi nước tuần hoàn. Các hồ chứa quặng đuôi sau khi kết thúc đổ nước thải và rút hết nước sẽ được san gạt và phủ lớp đất màu để hoàn thổ.” (5)
Đọc tới “khâu” rửa quặng nầy, người viết cảm thấy hổ thẹn vì hơn 20 năm kinh nghiệm trong việc thanh lọc bùn và nước thải ở Hoa Kỳ, kỹ thuật “cao siêu” nầy vẫn chưa được “học” tới!. Làm sao rút hết nước trong một lượng “vĩ đại” bùn thải trong các hồ chứa làm thành do các thung lũng, khe núi, và phủ lại lớp đất màu và hoàn thổ. Nhưng đây không phải là việc hoàn thổ mà là việc “đập đá vá trời” biến các thung lũng thành khu nông nghiệp mới để làm tăng phúc lợi cho người dân XHCN!
7. Về việc giảm thiểu ô nhiễm bùn đỏ
“Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm bùn đỏ: Chống thấm bùn đỏ: Bùn đỏ của nhà máy sẽ tiến hành xử lý theo phương thức tồn đọng. Tức là trong quá trình xử lý bùn đỏ, tách tối đa thành phần nước trong bùn đỏ để có hàm lượng chất lỏng trong huyền phù bùn đỏ hạ xuống 54,4%. Chất rắn trong bùn đỏ chiếm 45,6%; huyền phù bùn đỏ thải sẽ dùng bơm thông qua đường ống đưa vào bãi chứa bùn đỏ…” (6)
Thông thường trong kỹ nghệ “ướt” của việc khai thác quặng mỏ bauxite, sau khi tách alumin ra, tỷ lệ nước trong bùn đỏ là 2/1…như vậy cần phải sấy một số lượng “vĩ đại” bùn đỏ mới có thể đem bùn đỏ xuống còn 54,4% (?) nước. Và với tỷ lệ nầy bùn đỏ trở thành một chất rắn…. Như vậy, làm sao dùng bơm để đưa (chất rắn hay gần rắn (bùn cứng)) vào hồ chứa đây? 
Với tính cách thông tin, bùn (sludge) phế thải sau khi được xử lý hóa và sinh học nước rỉ ở nhà máy ở Los Angeles chúng tôi đã từng làm việc, bùn đã được rút nước bằng cách ép dưới áp suất 330 psi, nghĩa là gấp 330 lần áp suất không khí, bùn khô sau khi ép có nồng độ nước (moisture) là trên 60% và cứng được gọi là “cake” (cứng hơn bánh đậu xanh chúng ta ăn gấp nhiếu lần).
Về việc “thu hồi nước từ bùn đỏ”, trong thơ có viết: “Về thu hồi nước chứa kiềm trong bùn đỏ: sử dụng các ống và tháp thu nước để thu nước về hố thu của trạm bơm nước tuần hoàn của hồ bùng đỏ, sau đó nước thu được từ hồ bùn đỏ sẽ được máy bơm bơm qua hệ thống cấp ngược về nhà máy alumin để phục vụ cho quá trình rửa tách bùn đỏ…” (7)
Vào năm 2013, chúng tôi đã phân tích một mẩu nước giếng gần vùng Thác Trị An và đã khám phá ra vết tích của sút (NaOH) trong nguồn nước. Đây là hóa chất độc hại có trong bùn đỏ và phế thải lỏng của phương pháp tách Alumin từ quặng Bauxite.
Qua quy trình trên, chúng ta thấy đến đây, không cần phải xây dựng các hồ chứa nước để khai thác quặng mỏ vì đây là một chu trình kín, nước sử dụng trong việc tẩy rửa quặng sẽ được tái tạo lại qua việc rút nước từ bùn đỏ (?)
Và “Cũng để ngăn nước tràn từ hồ bùn đỏ ra ngoài gây ô nhiễm môi trường, hồ bùn đỏ sẽ được xây các công trình ngăn nước mặt chảy tràn vào khu hồ bùn đỏ… Ở ngoài đường dốc của đập sẽ trồng cây rộng làm hàng cây bảo hộ, tránh việc sạt nở (sạt lở) bờ đập”. (8)
Quả thật người viết hoàn toàn không hiểu gì cả dù cố “động não” để tìm hiểu vì nhận thấy phần diễn giảng ở phần trên đối nghịch và tương phản so với phần dưới. Nước trong bùn đỏ đã được tái sinh và tái sử dụng thì đâu cần trồng cây để tránh “sạt nở”. Và lớp bùn đỏ khô đã được phủ lớp đất màu để tái tạo thành vùng có thể trồng cây công nghiệp!
8. Quan sát, kiểm tra, nguồn nước
Nhưng chưa hết, đã đến giai đoạn “quan sát, kiểm tra nguồn nước kịp thời: Để bảo đảm việc dung dịch trong bùn đỏ (ở đâu ra, vì đã được dùng lại hết rồi?) không gây ảnh hưởng đến nguồn nước, công trình dự án Tân Rai và Nhân Cơ sẽ theo kế 4 giếng quan sát (thực ra phải gọi là giếng quan trắc- well monitoring) kiểm tra nguồn nước ở thượng nguồn, hạ nguồn gần hồ bùn đỏ…” (9)
Với một diện tích khai thác và diện tích hồ chứa bùn đỏ ở giữa các thung lũng (đã được giải quyết và tái tạo lại đất, đâu cần phải kiểm tra lại ô nhiễm?)
Và các giếng quan sát trên đã được đặt theo tiêu chuẩn nào hay là được chỉ định chiếu theo nghị quyết thành lập công trường khai thác?
Bùn đã khô và đã được lấp đất (hoàn thổ), làm sao còn nước để bơm lên và phân tích ô nhiễm?
9. Vấn đề chất phóng xạ
Và sau cùng vấn đề chất phóng xạ trong bùn đỏ. lá thư viết tiếp: “Kết quả phân tích mẫu quặng bauxite (mẫu sau khi tuyển rửa) của mỏ Tân Rai và một số mỏ ở Đắk Nông do nước ngoài (Pháp, Úc) phân tích khẳng định rằng thành phần bauxite và bùn đỏ của Tây nguyên hoàn toàn không có phóng xạ”. (10)
Lại thêm một khẳng định “xã hội chủ nghĩa” nữa. Xin thưa, trong đất tự nhiên (kể cả không khí và nguồn nước) luôn luôn có chứa các bức xạ như các tia alpha, beta, Radium và có nồng độ dao động trong khoảng trên dưới ~20PicoCurie/L tùy theo vùng…Với tính cách thông tin, nước rỉ kỹ nghệ như công trường khai thác quặng mỏ hay các bãi rác có hàm lượng bức xạ cao hơn nhiều (trong hơn 25 năm, bức xạ trung bình được tìm thấy ở bải rác lớn nhất Los Angeles là 40 PicoCurie/L).
Đây có phải là mộ cách bào chữa “lạy ông tôi ở bụi nầy không?” (Xin xem bài viết của cùng tác giả đăng trên Danlambao:  “Vén lên màn bí mật: Bauxite hay Uranium?”
10. Kết luận
Để kết luận nhận định về lá thư của Phó Thủ tướng CS Hoàng Trung Hải gởi cho Phó Chủ tịch nước Việt Nam CS Nguyễn Thị Bình, chúng ta có thể rút tỉa ra một số suy nghĩ như sau:
– Quả thật Việt Nam mặc dù nói đến công trình khai thác quặng mỏ bauxite để sản xuất ra nhôm ròng, nhưng thật sự trong dự án cũng như những phát biểu nhận định, biện giải…của Đảng CS, của Bộ Chính trị CS chỉ “khai triển” tới mức sản xuất alumina tức là oxid nhôm Al2O3 mà thôi;
– Có thể kết luận là việc khai thác này hoàn toàn không được nghiên cứu để đệ nạp bản nghiên cứu cứu tác động môi trường (EIA) và đồ án giải quyết phế thải khí, lỏng, và rắn. Đây là một quy định bắt buộc có ghi trong Luật Môi Trường của Việt Nam trước khi dự án được cấp giấy phép xây dựng;
– Dự án cũng không được minh bạch hóa và được giấu nhẹm trong hơn 10 năm qua, và chỉ được Bộ Chính trị qua Thủ tướng CS là Nguyễn Tấn Dũng bạch hóa năm 2009 sau khi bị “nhân dân” khám phá;
– Để trấn an dư luận và để giải thích những lý giải hoàn toàn không có căn bản khoa học và nghịch lý như lá thư điển hình của Hoàng Trung Hải, một trong cấp quyền lực cao nhất nước, lá thư trên thể hiện tinh thần khinh rẻ người dân, khinh rẻ cả sự hiểu biết của giới trí thức am hiểu vấn đề khai thác quặng mỏ;
Dự án hoàn toàn không có tính cách khả thi vì có quá nhiều mâu thuẫn kỹ thuật trong dự án.
Nói tóm lại, dự án Tân Rai và Nhân Cơ cùng 6 dự án khai thác quặng mỏ bauxite khác đã được quy hoạch ở Đắk Nông có thể được xem như là DIỆN trước dư luận thế giới và ĐIỂM là chính thức hóa sự hiện diện của người Trung Hoa ở vùng Cao nguyên Trung phần Việt Nam, ẩn tàng một âm mưu chính trị-quân sự của Trung Cộng trong tiến trình tiến chiếm Việt Nam và vùng Đông Nam Á qua não trạng Đại Hán của quốc gia này.
Hiện tại, không một tiếng súng nổ ngoài biên cương, không có tiếng kêu cứu trước công luận quốc tế, Bộ Chính trị CSVNt, cơ quan quyền lực cao nhất đã cấu kết, thỏa hiệp, hợp đảng với Bắc Kinh để hợp pháp hóa việc xâm lược qua việc khai thác quặng mỏ ở cao nguyên và nhiều nơi khác từ Bắc chí Nam. Hình thức xâm lược nầy rất nham hiểm, do đó quốc tế không thể nào lên án kẻ xâm lược là Trung Cộng được.
Đó chính là thảm nạn lớn cho Đất và Nước trong giai đoạn hiện tại.
Đọc đến đây, hẳn các bạn đã nhận diện rõ:
Ai là Trần Ích Tắc?
Và ai là Lê Chiêu Thống?
Cũng như chẳng có Ủy viên Trung ương nào thân Tàu hay thân Mỹ cả!
Tất cả đều tập trung vào việc DÂNG TỔ QUỐC cho Trung Cộng mà thôi!
Chúng ta phải làm gì để chấm dứt thảm nạn trên do CSVN gây ra?
Phải chăng giải pháp “bất tuân dân sự” có thể áp dụng cho tình trạng cấp bách của Việt Nam ngày hôm nay?
08.09.2017
 
Hội Bảo vệ Môi trường Việt Nam (VEPS)
___________________________________
Ghi chú:
Bài viết được trích và bổ túc từ sách “Từ Bauxite đến Uranium: Tiến trình Đô hộ Việt Nam của Trung Cộng” của tác giả. Nếu cần xin liên lạc: envirovn@gmail.com
2. (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) và (10): trích đoạn trong Lá thư HTH
3. Lá thư Hoàng Trung Hải gửi cho Bà Nguyễn Thị Bình, Phó Chủ tịch nước
2. Công văn cho phép thực hiện Dự án Đầu tư Nhà máy Liên hợp Thép tại Khu kinh tế Vũng Áng và Cảng nước sâu Sơn Dương.

Bộ Công An cấm Nguyễn Thanh Phượng con gái cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất cảnh để điều tra?

Tin Tức 24h TV- Published on Jun 7, 2017

Ngay sau khi ông Lê Nam Trà vừa mất chức Chủ tịch MobiFone, kế tiếp bà Nguyễn Thanh Phượng con gái cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị cấm xuất cảnh sau khi có Kết luận “thanh tra toàn diện” việc MobiFone mua 95% cổ phần của Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn Cầu (AVG).

Bài báo đã bị gỡ: Việt Nam – Trung Quốc: “Gác lại tranh chấp trên biển là thượng sách”

“Bài báo này của tác giả Châu Như Quỳnh, được báo Dân Trí đăng lúc 14h49, ngày 6-9-2017, nhưng chỉ vài giờ sau thì nó bị gỡ bỏ. chúng tôi xin được đăng lại để phục vụ quý độc giả.”

Học giả Trung Quốc: Lăng Đức Quyền. Ảnh: TTXVN

Ông Lăng Đức Quyền đến từ Trung tâm Nghiên cứu các vấn đề thế giới của Tân Hoa Xã – cho biết: “Tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc là tài sản âm, gây tổn thương tình cảm của hai nước, nhiều thế lực thù địch coi đây là “tử huyệt” của quan hệ Việt – Trung”.

Vấn đề nói trên được ông Lăng Đức Quyền đề cập tới trong cuộc tọa đàm “Sáng kiến Vành đai và con đường: Cơ hội hợp tác Việt – Trung” diễn ra mới đây tại Hà Nội.

Theo ông Quyền, vấn đề trên biển rõ ràng là một yếu tố trái chiều mà chúng ta phải thừa nhận nhưng việc này có phải là yếu tố cản trở quan hệ hai bên hay không? Trước tiên, phải thừa nhận hai bên có bất đồng, tranh chấp. Thứ hai là việc phải quản lý bất đồng.

“Tôi tin chắc rằng hai bên có khả năng, có năng lực để thực hiện điều này. Về tranh chấp trên biển, tôi cũng trao đổi với nhiều học giả Việt Nam, thượng sách là gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác. Theo tôi nghĩ chúng ta phải gác lại khai thác đơn phương một số vùng có tranh chấp. Tạo điều kiện dần dần đi đến cùng nhau khai thác” – ông Quyền nói.

Học giả của Tân Hoa Xã cho biết tán thành ý kiến của ngài Nguyễn Vũ Tùng (Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam) từng chia sẻ với báo chí Trung Quốc rằng: Hợp tác có thể mang đến niềm tin, niềm tin có thể mang tới nhiều hợp tác hơn.

“Việt Nam – Trung Quốc không chỉ gói gọn ở tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, bởi nó đã tồn tại rất lâu rồi và phải có sự nỗ lực rất lâu dài mới giải quyết được. Trong khi hợp tác thương mại thành công là ví dụ rất tốt để đánh dấu việc hai nước có thể khắc phục khó khăn do tranh chấp lãnh thổ gây ra.

Thực tiễn chứng minh rằng, hợp tác trên biển ở khu vực Vịnh Bắc Bộ là điểm sáng mô hình trong quan hệ hợp tác hữu nghị hai nước, là ví dụ thành công của 2 nước trong cùng nhau giải quyết tranh chấp trong lịch sử.” – ông Lăng Đức Quyền cho hay.

Cũng theo học giả này, tranh chấp trên biển giữa Việt – Trung là tài sản âm, gây tổn thương tình cảm của hai hai nước, nhiều thế lực thù địch coi đây là “tử huyệt” của quan hệ Việt – Trung.

Ông Lăng Đức Quyền thừa nhận sáng kiến “một vành đai một con đường” là có lợi cho Trung Quốc với vai trò hạt nhân.

“Theo tôi được biết, Chính phủ Trung Quốc coi trọng vai trò của Việt Nam trong Vành đai và Con đường. Rất nhiều doanh nghiệp đặc biệt thực lực ở Trung Quốc có ưu thế về vốn mong muốn đầu tư vào Việt Nam” – ông Quyền nói.

Ngoài hợp tác về cơ sở hạ tầng, học giả Lăng Đức Quyền kiến nghị Việt Nam – Trung Quốc hợp tác về năng lượng, đặc biệt là trong thúc đẩy hợp tác năng lượng, mặt trời, năng lượng gió, năng lượng mới, năng lượng sử dụng khoa học công nghệ cao… tìm hiểu tính khả thi của hợp tác trong lĩnh vực này.

Tháng 11/2017, Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương sẽ diễn ra tại TP Đà Nẵng của Việt Nam, trong dịp này, Bí thư – Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ tham dự Hội nghị và thăm Việt Nam.

Châu Như Quỳnh
Dân Trí

Người Việt Nam Đầu Tiên Đặt Chân Đến Châu Mỹ – Nguyễn Hiến Lê

Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm, người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ.
Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu. Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.
Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hoà Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.
Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó, ông trở về thành phố Xanh–Phát–Lan–Xích–Cố (phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờ Daily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.
Trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.
Thời đó, “Wild West” (miền Tây hoang dã) là từ ngữ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.
Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.
Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là “Oh! Suzannah” (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.
Ở Hoa Kỳ, Lê Kim vừa tìm vàng, vừa làm nhà báo và được một nhà văn viết trong cuốn “Đổ xô đi tìm vàng”.
Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.
Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.
Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.
Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.
Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ đối với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.
Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.
Người Minh Hương cầm quân chống Pháp
Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương.
Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.
Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: “Gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về”, Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.
Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi Pháp xâm lược Việt Nam. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi.

 

Di tích làng Xuân Lũng – quê gốc Lê Kim
Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăng trối của ông: “Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần”. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:
“Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh
Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.
Ghi công ông, hiện ở phường Long Bình, quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm nối phố Nguyễn Xiển với phố Mạc Hiển Tích.

Cuộc đời sinh động và bi hùng của Trần Trọng Khiêm được hai nhà văn hư cấu nghệ thuật trong hai cuốn tiểu thuyết có nhan đề: La rueé vers l’or (Đổ xô đi tìm vàng) của Rene Lefebre (Nhà Xuất bản Dumas, 1937) và Con đường thiên lý của Nguyễn Hiến Lê (năm 1972).

Sự dối trá trắng trợn của truyền thông Mỹ về cuộc chiến tại Việt Nam cuối cùng đã bị bộc lộ – Chelsea Schilling

Chelsea Schilling * Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) lược dịch – Nào là hình chụp nhà sư tự thiêu gây bàng hoàng cho người Mỹ vào năm 1960. Nào là hình chụp Giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia bắn du kích Việt Cộng ngay tại đường phố Sài Gòn. Nào là hình chụp người con gái nhỏ trần truồng chạy giữa đường, toàn thân bị cháy do bom napalm.
Đó là hình ảnh của cuộc chiến Việt Nam qua ống kính lệch lạc của giới truyền thông Hoa Kỳ mà ta được biết bấy lâu.
Hình ảnh người lính Mỹ tại cuộc chiến Việt Nam được giới truyền thông Hoa Kỳ mô tả như là những kẻ nghiện ngập, cuồng sát, giết cả trẻ em. Đồng minh của Hoa Kỳ là chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũng chịu chung số phận bị xuyên tạc bởi giới truyền thông Mỹ. Chính thể này cũng được giới truyền thông Mỹ mô tả nào là tham nhũng, hối lộ, hèn nhát và không đáng hay không có chính nghĩa để cho người Mỹ hy sinh bảo vệ.
Câu hỏi đặt ra là những hình ảnh và những lời xuyên tạc trên nhan nhãn khắp các đài truyền hình tại Mỹ, khắp các tờ báo tại Mỹ có thật sự diễn tả đúng bản chất của cuộc chiến nhằm bảo vệ tự do và ngăn ngừa thảm họa Cộng Sản, cũng như có nói đúng về thảm cảnh mà người Việt phải hứng chịu trước thảm họa này?
Hai nhà điều hành và sản xuất phim Richard Botkin và Fred Koster đã can đảm nhìn vào sự thật của cuộc chiến khi cho ra cuốn phim tài liệu với tựa đề: “Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Victory and Betrayal,” tạm dịch là “Lội ngược dòng oan nghiệt: sự thật về chiến thắng và phản bội trong cuộc chiến tại Việt Nam,” trình chiếu tại Westminster vào ngày 27 tháng Ba năm 2015. Bộ phim đưa ra những mẩu chuyện có thật về tình đồng đội, về lòng quả cảm, về tinh thần quốc gia cũng như sự hy sinh trong cuộc chiến nhằm ngăn chặn Cộng Sản, điều mà giới truyền thông Hoa Kỳ cố tình chối bỏ.
Botkin thành thật thừa nhận là người dân Mỹ đã bị giới truyền thông Mỹ lừa phỉnh!
Botkin cho tạp chí mạng Worldnetdaily (www.WND.com) biết như sau: “Những người lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam cũng quả cảm can trường không thua kém gì thế hệ trước của họ khi tham dự đệ nhị thế chiến.” Botkin còn cho biết thêm: “Có cả hàng trăm ngàn sĩ quan Hoa Kỳ các cấp phục vụ tại Việt Nam lập nhiều công trạng nhưng chỉ có mỗi một trung úy William Calley là được báo chí bàn đến rầm rộ vì bị kết tội giết 22 thường dân tại làng Mỹ Lai vào ngày 16 tháng Ba năm 1968.” 
Botkin khẳng định: “Chúng ta cần phải nhìn lại vấn đề cho công bằng không thể thiên lệch như vậy.”
Sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt được vài năm, tổng thống Nixson đã phải thở dài mà thừa nhận rằng: “Không có sự kiện nào trong lịch sử nước Mỹ lại bị che giấu dối gạt nhiều như cuộc chiến tại Việt Nam. Một cuộc chiến trước thì bị truyền thông (Mỹ) xuyên tạc, sau thì bị đánh giá thiên lệch.”
Theo như Botkin tâm sự, nhiều bộ phim khác về cuộc chiến tại Việt Nam như: “Apocalypse Now”, “The Deer Hunter”, “Good Morning, Vietnam,” “Rambo”, hay “Full Metal Jacket” cũng chỉ là những bộ phim có tính giải trí mua vui, và những bộ phim này không nêu rõ được những gian lao hung hiểm mà những người lính đã phải chiến đấu hết sức dũng cảm khi đối diện trong nỗ lực ngăn chặn thảm họa Cộng Sản.
Nhà làm phim Botkin nói: “Giới truyền thông Mỹ đã mô tả những người lính Mỹ tham chiến tại đã bị lừa để đẩy vào cuộc chiến vô nghĩa, để rồi khi những người lính này trở về thì họ bị cả xã hội gạt bỏ quên lãng và bị coi như là công cụ của giới kỹ nghệ sản xuất vũ khí mà thôi. Còn những người Việt Nam đồng minh của chúng ta (tức Việt Nam Cộng Hòa) thì lại còn bị mô tả một cách xuyên tạc nặng nề hơn nữa, nào là tham nhũng, độc tài, hèn nhát, và không đáng để nước Mỹ phải hy sinh cứu giúp “
Thế nhưng cũng theo nhà làm phim Botkin, cũng là người viết cuốn sách “Lội ngược dòng oan nghiệt” (“Ride the Thunder”) để rồi từ đó, cuốn phim tài liệu: “Lội ngược dòng oan nghiệt: sự thật về chiến thắng và phản bôi trong cuộc chiến tại Việt Nam” được dựng lên, sau khi đích thân đi điều nghiên tại những nơi xảy ra giao tranh cũ của Thủy Quân Lục Chiến (của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) cùng các cố vấn Hoa Kỳ trước sự tấn công của Cộng quân, thì lại khẳng định rằng mọi xuyên tạc của giới truyền thông Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng Hòa là hoàn toàn sai!
Botkin giải thích như sau: “Cuốn phim tài liệu này là cố gắng của chúng tôi nhằm xóa đi hiểu lầm về cuộc chiến Việt Nam do truyền thông (Mỹ) xuyên tạc, trả lại danh dự cho những người lính Mỹ tham chiến và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Cộng Sản là thảm họa cần phải ngăn chận và sự tham dự cuộc chiến của người Mỹ chúng ta là chính đáng.”
Vào thập niên 1970, theo chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh” của tổng thống Nixon, Việt Nam Cộng Hòa phải tự mình đương đầu ngăn chặn Cộng quân. Phim của Botkin kể lại câu chuyện có thật bị lãng quên chẳng còn ai biết đến nữa về sự can đảm của những cố vấn Mỹ và những người lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong một trận đánh chống lại sự tấn công ồ ạt của Cộng quân trong kế hoạch tổng tấn công vào mùa hè năm 1972, cứu vãn cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa nhỏ bé này thoát khỏi tình thế nguy ngập.
Người thật việc thật – cuốn phim diễn tả lại diễn biến của trận đánh tại Đông Hà, khi Cộng quân với quân số trên 20 ngàn người và 200 chiến xa đã hoàn toàn bị đánh bật lại bởi một lực lượng chỉ có 700 lính thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và vài cố vấn quân sự của Mỹ.
Do anh dũng chiến đấu và chiến thắng trên chiến trường, những người lính Thủy Quân Lục Chiến đã phải chịu đựng sự trả thù của Cộng sản bị bỏ đói và lao động khổ sai trong các trại tập trung (không luật sư toà án xét xử) gọi là trại “học tập cải tạo.”
Cuốn phim tài liệu cũng đề cập lại quãng đời học tập cải tạo của Trung tá Thủy Quân Lục Chiến Lê Bá Bình ở Nam Hà năm 1979. Người thủ vai ông là diễn viên Joseph Hiếu.
“Chúng tôi mở đầu bằng cuộc đời ông trong trại tù tập trung “học tập cải tạo” rồi từ đó truy ngược về lại quá khứ trước đó của đời ông. Thông qua sự truy ngược đó, chúng tôi dựng lại bối cảnh Việt Nam sau đệ nhị thế chiến, khi ông còn là đứa trẻ. Chúng tôi cũng phỏng vấn những người Mỹ, những người Việt sinh sống cùng thời với ông.”
Trung tá Bình, một quân nhân thứ thiệt khó ai bì, phục vụ 13 năm trong quân đội và chịu 11 năm tù trong trại tập trung. Bất chấp bao nhiêu lần bị thương và bao nhiêu mất mát, ông vẫn can trường bình thản đối diện oan nghiệt. Ông bị thương chín lần và được thưởng huân chương American Silver Star.
Botkin giải thích thêm: “Khi chúng ta tham chiến tại Việt Nam, mỗi người lính chỉ ở đó từ 12 tháng đến 13 tháng, nhưng Trung tá Bình thì ở đó đối diện chiến tranh từ đầu cho đến cuối. Thông qua cuộc đời của Trung tá Bình, tôi hy vọng người Mỹ chúng ta sẽ thấy sự hy sinh của chúng ta tại Việt Nam là chính nghĩa và cần thiết “
Khi cuộc chiến đi đến hồi kết thúc, hàng triệu công dân Việt Nam Cộng Hòa chạy giặc tìm đủ cách di tản tị nạn Cộng sản. Bao nhiêu người bị bỏ tù hoặc bị tử hình. Sáng 30 tháng Tư, những người lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng, kết thúc 21 năm chiến đấu.
Những diễn viên của cuốn phim này có rất nhiều người là người Việt tị nạn Cộng Sản. Nơi mà cuốn phim này được quay, Southern California (miền Nam tiểu bang California) thực ra cũng đã có 370 ngàn người Mỹ gốc Việt sanh sống mà hầu hết là những người Việt tỵ nạn Cộng sản, cựu chiến binh, thuyền nhân; có gần 200 ngàn người Việt định cư tại Orange County.
Botkin tâm sự thêm: “Đối với những người Việt hải ngoại tỵ nạn Cộng Sản, kể lại những oan nghiệt từ cuộc chiến mà họ chịu đựng không phải chỉ là để kiếm tiền mà là những nỗi lòng u uất của kẻ mất nước, cảm thấy có trách nhiệm phải nói lên sư thật. Họ chống Cộng tới cùng. Họ chống Cộng vì họ nhìn rõ bộ mặt thật của Việt Cộng. Gia đình thân nhân của họ hoặc là bị giết, hoặc là bị tù đày bởi Việt Cộng. Họ mất tất cả và sẵn sàng bỏ tất cả để có được tự do. Tôi đã hết cách lánh né mà buộc phải nhìn thẳng vào sự thật với lòng cảm thông kính trọng họ.”
Hệ quả của cuộc chiến tại Việt Nam, cũng theo nhà làm phim theo Botkin, đã giúp toàn khối Đông Nam Á và Á Châu né tránh được thảm họa Cộng Sản vốn đang lây lan mạnh lúc bấy giờ cũng như có hòa bình ổn định để phát triển.
Botkin nói: “Khi chúng ta đổ bộ lên Việt Nam năm 1965, du kích Cộng Sản đã gây rối ở Philippine, Mã Lai, Indonexia và Thái Lan. Nhờ có sự hiện của Hoa Kỳ tại Việt Nam, bất chấp bao nhiêu lời xuyên tạc từ truyền thông như đã nghe đã thấy, đã giúp trì hoãn sự bành trướng của thảm họa Cộng Sản và khiến nền kinh tế của những quốc gia kể trên có thời giờ chấn hưng và phát triển để đủ sức tự mình thoát khỏi ảnh hưởng của Cộng Sản. Tôi hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa, không có nỗ lực của người Mỹ chúng ta tham chiến tại Việt Nam thì các quốc gia này không được như ngày nay.”
“Và đối với nước Mỹ chúng ta ngày nay,” Botkin bàn thêm, “chúng ta đang loay hoay tìm lấy chính mình. Biết bao nhiêu người Mỹ trong chúng ta nghĩ rằng đất nước mình là một quốc gia ác độc tàn nhẫn (cũng bởi do truyền thông Mỹ gây ra,) nhưng trên thực tế, nước Mỹ chúng ta là ánh sáng của nhân loại, người Mỹ chúng ta là biểu tượng của nhân bản tốt đẹp cho thế giới.”
Rồi ông Botkin khẳng định: “Chúng ta đã cứu thế giới vào thời đệ nhị thế chiến, chúng ta đã cứu Nam Hàn khỏi thảm họa Cộng Sản cũng như đã cố giúp Việt Nam ngăn chận Cộng Sản khi tham chiến ở nơi này.”
26/5/2017

Loài cây “3 lá lấy một mạng người”

Lá ngón to bằng 3 ngón tay.

Cho đến nay, đông y vẫn cho rằng cây lá ngón được coi là loại cây độc nhất ở nước ta, chỉ cần ăn 3 lá là đủ độc tố để chết người.

Thấy nhóm khách “phượt” mượn rổ để lên đồi hái rau rừng, anh nông dân người Mông Cư Văn Thủy – chủ nhân Đảo Xanh (xã Thung Nai, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình) hỏi ngay: “Có ai trong nhóm biết cái lá ngón chưa?”. Cả nhóm lắc đầu ngơ ngác, anh Thủy nói luôn, thôi, để tôi hướng dẫn. Nhai nhầm vài lá là chết luôn đấy!
Anh Thủy cho biết, vùng Tây Bắc ai cũng biết lá ngón. Trẻ con biết đi, ng.ười lớ.n đã dạy phân biệt lá ngón để không bị ăn nhầm. Chỉ có con dê ăn lá ngón không chết, loài vật khác thì không ăn, còn con người, chỉ cần ăn ba lá ngón chứ không cần đến một nắm là có thể tử vong.

Loại cây này còn có tên gọi khác là đoạn trường thảo (đoạn là đứt, trường là ruột). Người ta cho rằng uống vị này sẽ bị đứt ruột mà chết.

Cận cảnh loài cây “3 lá lấy một mạng người” - ảnh 2
Lá ngón chịu mát nên mọc khắp nơi dưới các tán cây.
Cận cảnh loài cây “3 lá lấy một mạng người” - ảnh 3
Một nhánh lá ngón như thế này đủ độc tố làm chết 2 người.

Về đặc điểm, đây là một loại dây mọc leo, thân và cành không có lông, trên thân hơi có khía dọc. Lá mọc đối, hình trứng thuôn dài, hơi hình mác, đầu nhọn, phía cuống nhọn, mép nguyên, bóng nhẵn, dài 7-12cm, rộng từ 2,5-5,5cm. Hoa mọc thành chùm ở đầu cành hay ở kẽ lá. Cánh hoa màu vàng. Quả là một nang, màu nâu hình thon, dài 1cm, rộng 0,5cm. Hạt nhỏ, quanh mép có rìa mỏng màu nâu nhạt.

Cận cảnh loài cây “3 lá lấy một mạng người” - ảnh 4
Độc chất nằm nhiều nhất ở phần lá non.

cây lá ngón phân bố khá phổ biến ở miền rừng núi nước ta. Các tỉnh miền núi như Hòa Bình, Lào Cai, Lạng Sơn, Tuyên Quang đều có. Ngoài ra, một số nước vùng nhiệt đới và á đới châu Á cũng có loại cây độc này. Riêng ở Trung Quốc, ngoài việc dùng để đầu độc, người ta lại hay dùng rễ và bán tại các hiệu thuốc để chữa hủi hay nấm ở tóc.

Cận cảnh loài cây “3 lá lấy một mạng người” - ảnh 5
Cây lá ngón thân thảo, nhỏ hơn chiếc đũa và có thể bò dài tới 12 mét.
Cận cảnh loài cây “3 lá lấy một mạng người” - ảnh 6
Hoa cây ngón có màu vàng, khá đẹp, giống hoa thiên lý.

“Dân vùng núi ai cũng biết lá ngón, nó mọc khắp nơi. Trừ những trường hợp Tự tử cố tình ăn lá ngón, chứ chúng tôi thì không lầm được. Các bạn ở miền xuôi, đa số không biết loại lá này, nên ai tới đảo vui chơi, tôi cũng dẫn các bạn ra xem cây lá ngón để còn biết mà phân biệt, vì nó rất dễ lẫn với các loại rau rừng mọc hoang ở vùng núi” – anh Thủy nói.